Trong bài giảng nhân dịp kỷ niệm 210 năm khởi đầu đời sống cộng đoàn và sứ mạng truyền giáo của Dòng, đồng thời trong năm kỷ niệm 200 năm được Tòa Thánh phê chuẩn, Bề trên Tổng quyền đã nói về thời khắc hồng ân này như một cơ hội để trở về với điều cốt lõi nơi đặc sủng của chúng ta.
Ngài gợi lại những khởi đầu mong manh của Hội Dòng và khẳng định rằng chính việc phê chuẩn ấy có thể được đọc như một hành động của Sự Quan Phòng Thiên Chúa, một ân huệ đòi hỏi nơi chúng ta một lời đáp trả hôm nay. Từ đó, ngài nêu bật ba trụ cột nền tảng cần được gìn giữ và phát triển: hiến dâng trọn vẹn trong sự hiệp thông với Đức Kitô – Đấng tự hiến, đời sống cộng đoàn được sống như gia đình và được ghi dấu bằng đức ái, và sứ mạng được chia sẻ với người nghèo, được thực hiện cùng với họ. Chúng tôi trân trọng mời quý vị đọc trọn bài giảng và sống Năm Kỷ Niệm này với lòng biết ơn, cầu nguyện và niềm vui trước hồng ân đã được trao phó cho chúng ta.
Bài Giảng – ngày 24 tháng 01 năm 2026
Kỷ niệm 210 năm khởi đầu đời sống cộng đoàn và sứ mạng truyền giáo
Anh em thân mến,
Hôm nay, chúng ta cử hành 210 năm kể từ khi đời sống cộng đoàn và sứ mạng truyền giáo của chúng ta khởi sự. Chúng ta cử hành biến cố này trong năm 2026, năm mà chúng ta cũng đánh dấu kỷ niệm 200 năm được Tòa Thánh phê chuẩn. Khi đặt hai thời khắc này song song với nhau, tôi được đưa trở về mười năm đầu tiên của lịch sử Dòng, một giai đoạn đã định hình căn tính của chúng ta.
Năm 1826, Hội Dòng của chúng ta chỉ là một nhóm nhỏ gồm mười tám thành viên. Một số người, kể cả vài vị tiên phong, đã rời đi; cộng đoàn phải đối diện với sự chống đối từ một số giám mục và thành viên hàng giáo sĩ. Hội Dòng mà Đức Giáo hoàng Lêô XII phê chuẩn, theo chính lời của Đấng Sáng Lập, là yếu đuối, nhỏ bé, nghèo nàn và khiêm tốn. Thế nhưng, nơi cộng đoàn ấy vẫn có một điều gì đó đã thúc đẩy Đức Thánh Cha ban phép chuẩn nhận.
Chắc chắn, anh em Hiến Sĩ đã đặt tất cả vào việc loan báo Tin Mừng cho những người bị bỏ rơi nhất, và phương pháp truyền giáo do thánh Mai Thiên Lộc cùng các bạn hữu khởi xướng đã sinh hoa kết quả. Đặc sủng cá nhân của Đấng Sáng Lập cũng có thể đã đóng vai trò nhất định: một vị giám mục người Pháp nói được tiếng Ý, từng trợ giúp các Hồng y trong thời gian lưu vong tại Paris khi ngài còn là một chủng sinh. Bối cảnh Giáo hội lúc bấy giờ cũng có thể đã góp phần. Nhưng liệu tất cả những yếu tố ấy có đủ để biện minh cho việc phê chuẩn Hội Dòng không?
Thánh Mai Thiên đã đọc biến cố phê chuẩn ấy như một hành động của Sự Quan Phòng Thiên Chúa. Chúng ta hôm nay cũng có thể đọc như vậy. Và nếu việc phê chuẩn này là ý muốn của Thiên Chúa, thì thật chính đáng khi chúng ta tự hỏi: điều gì nơi Hội Dòng của chúng ta đã đón nhận ân huệ ấy? Điều gì đã được gieo trồng tại Aix để có thể lớn lên thành cây đại thụ mà chúng ta biết hôm nay, sau 210 năm?
Năm Thánh này trao cho chúng ta một cơ hội đặc biệt để trở về với điều cốt yếu của đặc sủng. Mỗi người chúng ta được mời gọi đón nhận câu hỏi này cách cá vị, lắng nghe điều Thiên Chúa đang nói và điều Ngài đang đòi hỏi nơi chúng ta. Tin rằng đặc sủng của chúng ta đến từ Thiên Chúa đưa chúng ta đi sâu hơn vào tiến trình phân định này, bởi vì chúng ta phải khám phá cách đáp trả ân sủng của Ngài. Lời đáp trả ấy đòi hỏi chúng ta hiến dâng những gì tốt đẹp nhất của mình. Hôm nay, trách nhiệm của chúng ta là phát triển đặc sủng với lòng trung tín sáng tạo. Vậy đâu là những yếu tố thiết yếu mà chúng ta phải gìn giữ và để cho lớn lên, nếu chúng ta muốn trung thành với ơn gọi đã lãnh nhận?
1. Hiến dâng trọn vẹn trong sự hiệp thông với Đức Kitô – Đấng tự hiến
Ước muốn đã quy tụ những người cha đầu tiên của chúng ta rất đơn sơ nhưng cũng đầy đòi hỏi: phụng sự Chúa bằng cách nỗ lực nên giống như Ngài. Ước muốn này phát sinh từ một cuộc gặp gỡ cá vị, nơi Thiên Chúa chiếm vị trí ưu tiên tuyệt đối. Trong các thư gửi những người ngài mời gọi gia nhập Hội Dòng, Đấng Sáng Lập đã yêu cầu họ “hãy đọc lá thư này dưới chân thập giá”, và đặt mọi mối bận tâm khác xuống hàng thứ yếu. Cuộc gặp gỡ với Đấng Chịu Đóng Đinh đã dẫn họ đến việc từ bỏ những chương trình riêng của mình.
Kinh nghiệm này dần dần mang hình hài cụ thể trong điều mà chúng ta gọi là sự tự hiến: hiến dâng trọn vẹn cuộc đời trong sự hiệp thông với Đức Kitô. Qua sự tự hiến, được kết hợp với chính sự tự hiến của Đức Kitô, anh em Hiến Sĩ hiến mình hoàn toàn cho con người và sứ mạng của Đấng Cứu Độ. Chúng ta sống khiết tịnh, khó nghèo, vâng phục và kiên trì với dấu ấn đặc thù đã trao cho chúng ta chính danh xưng của mình. Sự tự hiến đã viết nên những trang sử anh hùng trong đời sống các nhà truyền giáo nơi những hoàn cảnh khắc nghiệt nhất. Sự tự hiến cũng đã dẫn một số anh em đến chỗ hiến dâng mạng sống mình, thậm chí đổ máu, vì Giáo hội và vì người nghèo.
Nếu chúng ta muốn đặc sủng của mình tỏa sáng hôm nay, chúng ta phải tái khám phá tinh thần tự hiến được sống bởi những người đi trước. Sự tự hiến của chúng ta cần một lần nữa trở thành dấu chỉ rõ ràng của tình yêu vô điều kiện dành cho Đức Giêsu, Đấng ở trung tâm đời sống, công việc và ước muốn của chúng ta. Hiến dâng mạng sống mình mà không có chương trình cá nhân nào khác ngoài việc trao hiến cho Tin Mừng, như chính Đức Giêsu đã làm. Hôm nay, đến lượt chúng ta sống mối tương quan với Đức Giêsu Kitô như những Hiến Sĩ.
2. Đời sống cộng đoàn như gia đình
Trụ cột lớn thứ hai, được khai sinh năm 1816, là đời sống cộng đoàn. Trong bản Thỉnh nguyện gửi các Đại Diện Tổng Đại Diện giáo phận Aix, đời sống chung được trình bày như phương thế giúp nhau nên thánh, bằng cách noi theo lối sống của các Tông đồ. Những Hiến Sĩ tiên khởi ước mong sống tinh thần của các cộng đoàn Kitô hữu đầu tiên, nơi đời sống bác ái đã lôi cuốn người khác trở về với Chúa.
Đây chính là gia sản mà Đấng Sáng Lập đã trao phó cho chúng ta: “Giữa anh em, hãy sống bác ái, bác ái, bác ái…”. Đức ái này được nuôi dưỡng bởi chính Thiên Chúa, Đấng hiện diện nơi đâu có hai hay ba người họp lại nhân danh Đức Giêsu. Chúng ta sống chung với nhau, như thế, để trở thành dấu chỉ rằng Thiên Chúa là tất cả đối với chúng ta, và để cộng tác trong sứ mạng của Ngài, như các Tông đồ đã sống với Đức Giêsu.
Gia sản này đang thách đố chúng ta hôm nay. Mỗi người cần tự hỏi: tôi đang làm gì để sống đức ái với lòng nhiệt thành hơn? Tôi có chỗ cho người anh em của mình trong đời sống cá nhân và trong tiến trình phân định sứ mạng của cộng đoàn không? Tôi có tìm kiếm sự hòa giải khi tôi đã làm tổn thương ai đó, hoặc khi chính tôi bị tổn thương không? Tôi có dành những gì tốt nhất của thời gian và năng lực để xây dựng đức ái giữa chúng ta không? Không có chiều kích thiết yếu này, chúng ta không còn là gia đình mà thánh Mai Thiên Lộc và những người bạn tiên khởi đã bắt đầu xây dựng. Hôm nay, đến lượt chúng ta sống đức ái Hiến Sĩ.
3. Sứ mạng được chia sẻ
Sau cùng, các nhà truyền giáo đã quy tụ lại để loan báo Tin Mừng cho những người bị bỏ rơi nhất. Những công việc chính yếu của họ bao gồm giảng đại phúc, chăm sóc giới trẻ và phục vụ tù nhân. Họ không tìm kiếm đặc quyền hay uy tín. Âm thầm trong một vùng đất bên lề của nước Pháp, họ dấn thân cách mãnh liệt cho sứ vụ của mình, với trái tim đủ rộng để ôm lấy toàn thế giới.
Trong một thế giới bị chi phối bởi sự công nhận và khát vọng hiện diện không ngừng, điều này đặt ra cho chúng ta một thách đố lớn. Nó mời gọi chúng ta phục vụ cách khiêm tốn và kiên trì, chính nơi những chỗ mà chúng ta “không được tính đến”, bởi vì chúng ta đã chọn đứng về phía những người cũng “không được tính đến”.
Khi thánh Mai Thiên Lộc và các bạn hữu quyết định giảng Tin Mừng bằng ngôn ngữ địa phương, họ không chỉ đơn thuần áp dụng một chiến lược truyền giáo. Họ đã đặt người nghèo, ngôn ngữ và văn hóa của họ lên trên mọi phương pháp mục vụ. Họ chọn đáp lại những nhu cầu của người nghèo bằng cách trở nên một với họ. Điều này không hệ tại ở việc làm điều gì đó cho người nghèo từ các văn phòng hay giảng đường, kể cả trong những cơ cấu của Giáo hội. Nhưng là ở với người nghèo, và để họ trở thành chủ thể của sứ mạng.
Chẳng phải đó là điều thánh Mai Thiên Lộc đã sống, vừa như một Hiến Sĩ, vừa như một giám mục sao? Sứ mạng được thực hiện cùng với người nghèo. Để làm được điều đó, chúng ta phải sẵn sàng bước xuống bùn lầy và để chính mình được họ loan báo Tin Mừng. Chính vì thế, Giáo hội cần đến chúng ta. Sức sống của gia đình Hiến Sĩ tùy thuộc vào chất lượng lời đáp trả của chúng ta. Hôm nay, đến lượt chúng ta trở thành những nhà truyền giáo cho và cùng với người nghèo.
Hạt giống được gieo năm 1816 đã trưởng thành với việc phê chuẩn của Tòa Thánh năm 1826 và đã sinh nhiều hoa trái dồi dào trong suốt hai trăm năm qua. Bằng cách sống điều cốt yếu, chúng ta cũng được mời gọi chăm sóc cây đặc sủng này, để nó tiếp tục phục vụ Giáo hội và người nghèo, bằng việc loan báo Tin Mừng Đức Giêsu Kitô.
Chúng ta phó dâng cuộc hành hương của mình trong Năm Kỷ Niệm này cho Mẹ Maria. Chúng ta xin Mẹ giúp chúng ta đối diện với những thách đố truyền giáo của thời đại hôm nay mà không đánh mất căn tính của mình. Nguyện xin cho chúng ta lớn lên trong tình yêu đối với Đức Giêsu Kitô qua sự tự hiến, lớn lên trong đức ái, và sống sứ mạng với người nghèo bằng lòng khiêm tốn và nhiệt thành hơn.
Lạy Mẹ Maria Vô Nhiễm, xin cầu cho chúng con.
Amen.
Luis Ignacio Rois Alonso, OMI
Bề trên Tổng quyền
