Điều 22.

LỜI KHẤN KHÓ NGHÈO

Nhờ lời khấn khó nghèo, chúng ta tự nguyện cam kết sống đời khó nghèo theo Tin Mừng. Chúng ta từ bỏ quyền tự mình sử dụng và định đoạt cách hợp pháp bất cứ tài sản nào có giá trị vật chất.

Mọi sự chúng ta có được, dù nhờ công sức lao động cá nhân hay qua công việc của Hội Dòng, đều thuộc về cộng đoàn. Tương tự như vậy, mọi khoản lương hưu mà quyền thụ hưởng phát sinh sau lần khấn đầu tiên, cũng như các khoản trợ cấp, bảo hiểm và những quyền lợi khác, ngoại trừ tài sản nhận được do thừa kế, đều thuộc về Hội Dòng.

Lời Chúa để cầu nguyện

1.     Mc 11,22-24:

“Hãy đặt niềm tin vào Thiên Chúa.”

2.     Lc 16,9-12:

“Ai trung tín trong việc nhỏ thì cũng trung tín trong việc lớn.”

3.     Lc 12,22-31:

“Trước hết hãy tìm kiếm Nước của Người.”

4.     Lc 10,3-9:

“Người thợ đáng được trả công.”

5.     Tv 133:

“Ngọt ngào tốt đẹp lắm thay, anh em được sống vui vầy bên nhau.”

6.     Cv 4,32-35:

“Mọi sự đều là của chung.”

7.     Cn 22,9:

“Người quảng đại chia sẻ cơm bánh cho người nghèo.”

 

Văn kiện Hội Thánh

 

Evangelii Nuntiandi số 69

Perfectae Caritatis số 13

 

Suy niệm:

THUỘC VỀ – TÍN THÁC – ĐỒNG TRÁCH NHIỆM

Đức khó nghèo Tin Mừng không chỉ là việc giữ luật, cũng không thể bị giới hạn trong những quy định của lời khấn. Cốt lõi của nó nằm ở những tâm tình và giá trị được Tin Mừng hình thành trong tâm hồn người môn đệ. Chính những tâm tình và giá trị ấy phải được thể hiện cách cụ thể qua cách chúng ta sử dụng, quản lý và chia sẻ của cải vật chất trong đời sống cá nhân cũng như trong đời sống cộng đoàn.

Thái độ căn bản của chúng ta trong việc chia sẻ bắt nguồn từ ý thức “thuộc về”. Đó là xác tín sâu xa rằng chúng ta thực sự là thành viên của cộng đoàn ở mọi cấp độ: cộng đoàn địa phương, tỉnh dòng và toàn thể Hội Dòng. Ý thức mình thuộc về Hội Dòng tạo nên nơi mỗi người một mối tương quan sống động với tất cả anh em. Không còn sự phân biệt giữa “tôi” và “họ”, nhưng chỉ còn “chúng ta”. Tôi là một tu sĩ Hiến Sĩ Đức Mẹ Vô Nhiễm. Danh tính ấy không cho phép tôi tự hỏi: “Hội Dòng đã làm gì cho tôi?” hay “Tôi còn cần gì nơi Hội Dòng?”. Trái lại, nó mời gọi tôi chia sẻ trọn vẹn cuộc sống của mình, kể cả những nhu cầu và của cải vật chất. Vì thế, chính ý thức thuộc về, hơn là bất cứ quy định pháp lý nào, thúc đẩy tôi trao cho cộng đoàn tất cả những gì mình nhận được, đồng thời đón nhận từ cộng đoàn những gì mình thực sự cần.

Ý thức thuộc về khơi dậy trong tôi một niềm tín thác sâu xa. Tôi có thể hoàn toàn tin tưởng vào sự chân thành, liêm chính, đáng tin cậy, công bằng và tình huynh đệ mà từng anh em, cộng đoàn địa phương, tỉnh dòng và toàn thể Hội Dòng dành cho tôi. Niềm tín thác ấy là một biểu hiện của niềm tín thác tôi đặt nơi sự quan phòng của Chúa Cha và nơi tình yêu Người dành cho tôi. “Hãy đặt niềm tin vào Thiên Chúa” (Mc 11,22). Việc hoàn toàn phó thác cho Chúa giúp tôi gạt sang một bên những bất an và lo sợ. Chính niềm tín thác vào cộng đoàn giúp tôi không phải quá bận tâm về sức khỏe, tuổi già hay những nhu cầu vật chất của mình. Dù tài sản và phương tiện của cộng đoàn có giới hạn, tôi vẫn biết rằng mình luôn được anh em quan tâm và chăm sóc. Vì thế, việc giữ quỹ riêng, tích lũy của cải vật chất hoặc quá gắn bó với những tiện nghi không chỉ là vi phạm một quy định của lời khấn; sâu xa hơn, đó còn là sự xúc phạm đến ý thức thuộc về và tinh thần tín thác của tôi, cả đối với Thiên Chúa lẫn đối với anh em mình.

Ý thức thuộc về và niềm tín thác ấy làm nảy sinh trong cộng đoàn tinh thần đồng trách nhiệm và trách nhiệm hỗ tương. Không đủ chỉ xin phép nhà chức trách khi sử dụng hoặc định đoạt những tài sản có giá trị vật chất. Chính tinh thần khó nghèo giúp chúng ta nhận ra những nhu cầu thực sự của mình và biết sử dụng đúng đắn các của cải vật chất, vốn là gia sản của người nghèo, ngay cả trước khi trình bày những thỉnh nguyện của mình. Tinh thần đồng trách nhiệm còn thúc đẩy chúng ta quan tâm đến việc gìn giữ, sửa chữa và sử dụng hợp lý những tài sản chung. Máy móc, nhà cửa và các cơ sở vật chất có thể nhanh chóng xuống cấp nếu mọi người không cùng chung tay chăm sóc. Việc tạo lập và sử dụng các nguồn tài chính là trách nhiệm của tất cả mọi người. Luật lao động đòi hỏi chúng ta phải làm việc trọn vẹn bổn phận mỗi ngày, thi hành sứ vụ cách tận tâm và chuyên nghiệp, để xứng đáng với công việc được trao phó. Việc quảng đại chia sẻ với người nghèo cũng là một phần thiết yếu của tinh thần đồng trách nhiệm ấy.

Câu hỏi suy tư:

1.     Tôi có thực sự xem những gì mình kiếm được hoặc nhận được là những ân ban, và mọi tài sản mình có thực sự thuộc về cộng đoàn không?

2.     Tôi có chia sẻ những gì mình có với anh em không? Cộng đoàn của tôi có quảng đại chia sẻ những tài nguyên và của cải của mình cho tỉnh dòng không?

3.     Tôi sẽ mô tả ý thức thuộc về Hội Dòng của mình như thế nào?

Bài thực hành:

I. Hãy tìm hiểu báo cáo tài chính mới nhất của tỉnh dòng để hiểu rõ hơn về các nguồn lực, nghĩa vụ và trách nhiệm tài chính của tỉnh dòng. Đồng thời đọc Lc 16,1-15, dụ ngôn người quản lý khôn ngoan.

II. Hãy lập danh sách những nỗi lo lắng và bất an hiện nay của bạn liên quan đến đời sống vật chất ở hiện tại hoặc tương lai. Những điều ấy phản ánh thế nào về mức độ tín thác, ý thức thuộc về và sự dấn thân của bạn đối với Hội Dòng?


Điều 23. GIA SẢN RIÊNG: Trước khi tuyên khấn lần đầu, ứng sinh trao việc quản trị tài sản và của cải của mình cho một hoặc nhiều người do chính mình lựa chọn; đồng thời tự do quyết định cách thức sử dụng tài sản ấy cũng như những lợi tức phát sinh từ đó. Trước khi tuyên khấn trọn đời, mỗi tu sĩ OMI phải lập một di chúc hợp pháp theo luật dân sự để định đoạt những tài sản hiện có và những tài sản có thể có trong tương lai.

Mọi thay đổi liên quan đến các sắp xếp nói trên, cũng như bất kỳ quyết định nào khác liên quan đến gia sản riêng của một tu sĩ OMI, đều phải có phép của Bề trên Cấp cao. Trong trường hợp khẩn cấp, di chúc có thể được sửa đổi với sự cho phép của Bề trên địa phương.

Với sự chấp thuận của Bề trên Cấp cao cùng với Ban Cố vấn, một tu sĩ OMI đã khấn trọn đời có thể từ bỏ hoàn toàn quyền sở hữu đối với những tài sản hiện có và tương lai của mình, theo những hệ quả mà luật chung của Hội Thánh quy định.

Luật 14. Vì tài sản của cộng đoàn có thể được xem là gia sản của người nghèo, nên phải được quản lý cách cẩn trọng. Tuy nhiên, cộng đoàn, với niềm tín thác vào sự quan phòng của Thiên Chúa, sẽ không ngần ngại sử dụng những gì mình có, kể cả những gì cần thiết cho chính mình, để trợ giúp những người nghèo của Thiên Chúa.

Luật 15. Các cộng đoàn và tỉnh dòng phải quảng đại chia sẻ nguồn lực của mình với những tu sĩ OMI đang phục vụ tại những vùng nghèo hơn hoặc trong các sứ vụ có ít điều kiện vật chất hơn.

Luật 16. Mỗi tỉnh dòng sẽ quy định cách thức quản trị tài sản của các cộng đoàn cũng như cách đáp ứng những nhu cầu thường ngày của các thành viên trong đời sống cộng đoàn và trong hoạt động tông đồ.

Luật 17. Nếu sau khi tuyên khấn lần đầu, một tu sĩ OMI nhận được tài sản do thừa kế, người ấy được tự do chỉ định người quản lý và quyết định ai sẽ sử dụng tài sản đó cũng như những lợi tức phát sinh từ nó.

Khi quyết định việc sử dụng gia sản riêng của mình, một tu sĩ OMI có thể quy định rằng phần lợi tức phát sinh từ tài sản ấy được tiếp tục nhập vào vốn gốc.

Tất cả những sắp xếp nói trên sẽ đương nhiên mất hiệu lực nếu tu sĩ rời khỏi Hội Dòng. Điều khoản này phải được ghi rõ trong văn bản liên hệ.