Cách đây vài hôm, tôi có dịp trở về quê nhà để dự lễ an táng của một người thân quen. Từ ngày bố mất, căn nhà nhỏ của gia đình trở nên trống trải hơn bao giờ hết. Chẳng còn những tiếng nói rôm rả như ngày trước, chỉ thấy bóng mẹ lụi cụi dưới gian nhà sau, vừa trông đứa cháu nhỏ vừa làm việc để vơi đi nỗi buồn.

Thấy tôi về, mẹ khẽ hỏi: “Về rồi hả con?”

Hai mẹ con ngồi hỏi thăm nhau đôi ba câu rồi lại cùng nhìn đứa cháu hơn một tuổi đang líu lo diễn trò. Bỗng mẹ chợt nói:

Có nhiều người hỏi mẹ: “Ủa bà cố, sao thầy lại đi tu Dòng? Cả xứ mới có mình thầy đi tu mà lại tu Dòng! Tu Dòng thì chẳng có tiền đâu, nghèo lắm!”

Tôi nhìn mẹ rồi mỉm cười đáp: “Vì hợp thôi!”

Trầm ngâm một lúc, mẹ quay lại bảo tôi: “uhm, đi tu chứ đâu phải đi làm giàu! Con nhỉ”

Tôi và mẹ lại nhìn xa xăm, rồi tôi hồi tưởng về quá khứ cách đây đã nhiều năm về trước…

………..

Mùa mưa năm ấy đến sớm hơn nhiều. Con đường đất trước nhà tôi chỉ sau một đêm đã trở nên nhão nhoét. Từng vũng nước đục ngầu in bóng những mái nhà tranh thấp bé nằm chen chúc giữa những bụi tre già. Trong căn nhà lợp tôn cũ kỹ, tiếng mưa rơi lộp bộp hòa cùng tiếng ho khan của bố tôi giữa đêm khuya.

Ngày đó trong làng tôi vẫn chưa có điện, Mẹ tôi ngồi bên ngọn đèn dầu leo lét, vá lại chiếc quần học sinh đã cũ cho tôi. Đôi tay mẹ gầy guộc, chai sần vì năm tháng, mẹ nhẹ nhàng đưa từng mũi kim qua lớp vải bạc màu.

May xong, mẹ quay qua dặn tôi: “Mai nhớ mặc quần này đi lễ, mẹ may lại rồi! cha bố ông, ăn mặc cứ để rách…….” (kaka…ngại quá không dám nói!!!)

Ba chị em tôi nằm trên bộ ván cũ, kéo chiếc mền mỏng lên ngang ngực rồi tôi khẽ hỏi: “Mẹ… sao các cha lúc nào cũng sung sướng vậy? Chiều nay, con thấy cô tám mới cho cha một trái sầu riêng to bằng cái nồi cơm nhà mình á mẹ!”

Mẹ bật cười: “cha đi làm việc Chúa mà…”

Tôi chẳng hiểu “làm việc Chúa” là gì! Trong đầu của một đứa trẻ ngây ngô chỉ 7 – 8 tuổi, tôi chỉ thấy các cha và các dì Phước ở xứ tôi thật khác với gia đình mình. Các ngài lúc nào cũng sạch sẽ, ung dung, vui tính và đặc biệt “mập mạp” (hihi…chắc do ăn sầu riêng của bà tám!). Chẳng thấy phải chạy ăn từng bữa như bố mẹ tôi. Và đi đâu cũng có người kính trọng.

Mỗi chiều Chúa Nhật, khi tiếng chuông vang lên, người ta lại đổ về kín sân nhà thờ. Những cụ già tóc bạc chống gậy chậm chạp, cứ đi vài bước lại dừng, rồi miệng lẩm bẩm vài kinh, tay thì làm dấu Thánh Giá liên tục. Mấy đứa trẻ con thì chạy quanh tượng Đức Mẹ rồi bỗng đứng nghiêm khi thấy cha xứ đi ngang qua: “Con chào cha!” Thật sự, tôi thích cái cảm giác ấy! Nó giống như các cha là những người rất lớn, rất quan trọng và rất phi thường. Một người mà ai thấy cũng nể.

Có lần bố dẫn tôi lên nhà xứ để trình cha về việc rước lễ lần đầu. Tôi còn nhớ, hôm đó trời chiều âm u, gió thổi qua hàng cây dầu của nhà xứ làm những chiếc lá rơi đầy sân.  

Bố đứng ngoài cửa phòng cha rất lâu. Ông không dám gõ cửa mạnh, chỉ đứng chờ! Hai tay ông đan vào nhau, đôi dép cũ dính đầy bùn đất sau một ngày làm thuê. Tôi ngước nhìn bố. Người đàn ông mà trong mắt tôi vốn mạnh mẽ, hôm nay sao lại có vẻ nhỏ bé thế!

Khi cánh cửa mở ra, bố tôi khẽ cúi đầu: “Con chào cha… Thưa cha, con xin trình cha một chuyện…”

Tôi đứng phía sau nhìn vào căn phòng sáng đèn, cha xứ đang ngồi bên chiếc bàn gỗ sạch sẽ. Mùi thơm thoang thoảng hòa cùng mùi sách cũ khiến tôi thấy căn phòng đó thật xa lạ nhưng trong tâm cũng đầy ngưỡng mộ.

Từ hôm đó, tôi bắt đầu nghĩ: “Mai mốt mình đi tu chắc sướng lắm.” Rồi cứ thế mỉm cười.

Nhiều năm sau, tôi thật sự bước qua cánh cổng nhà dòng. Ngày đầu tiên vào dòng, tôi vẫn còn mang theo suy nghĩ ngây ngô năm nào. Tôi từng tưởng tượng đời tu là một cuộc sống bình yên, chẳng phải lo nghĩ nhiều. Thế nhưng, tôi thật sự vỡ mộng vào đúng buổi sáng đâu tiên:

Tiếng chuông nhà nguyện vang lên khi trời còn chưa sáng, khoảng 4h30. Những giờ học kéo dài. Những buổi lao động chung dưới nắng. Những đêm nhớ nhà đến nghẹn cổ (cũng có đôi lần khóc, hihi…). Nhưng đặc biệt, ở đây chẳng ai sống cho riêng mình.

Tôi còn nhớ một đêm nọ, trời mưa rất lớn.

Một cha trong cộng đoàn vừa từ bệnh viện trở về lúc gần 1h sáng. Chiếc áo dòng ướt sũng nước mưa. Ngài lặng lẽ ngồi nơi bàn ăn, lấy tô mì đã nguội từ lâu rồi ăn vội vài đũa. Nghe tiếng lạch cạch, tôi với cây đèn rồi lọ mọ đi xuống bếp. Thấy cha ngồi đó, vừa ăn vừa suy nghĩ…

Tôi hỏi: “Cha chưa ngủ ạ?”

Ngài nhìn tôi: “Có một bác mới mất, anh chạy đến để ở bên gia đình họ, vừa về!”

Rồi ngài cúi xuống ăn tiếp trong im lặng.

Lúc đó tôi thầm nghĩ; “chẳng ai thấy những đêm thức trắng, những lần mệt mỏi hay áp lực của các cha. Người ta chỉ thấy một linh mục đứng trên bàn thờ với nụ cười bình an”. Sáng hôm sau, ngài vẫn dâng lễ như bình thường. Vẫn cười, vẫn hỏi thăm mọi người trong nhà như chưa hề có một đêm dài vừa đi qua.

Lần đầu tiên tôi cảm nhận, đời tu chẳng bao giờ làm người ta giàu hơn về mặt của cải. Nếu có điều gì lớn lên theo năm tháng, thì đó là những hy sinh mà đâu mấy ai nhìn thấy. Đêm hôm ấy, tôi nằm thao thức rất lâu. Ngoài trời, tiếng mưa vẫn rơi đều trên mái tôn cũ. Tôi lại nhớ đến hình ảnh bố mình năm xưa đứng khép nép trước cửa phòng cha xứ….

Có lần tôi theo một cha lên vùng truyền giáo xa xôi mà nhà dòng nhận phục vụ. Chiếc xe máy quá cũ chòng chành qua con đường núi đầy đá. Mưa rừng tạt lạnh buốt mặt. Đến nơi thì trời đã tối mịt. Nhà nguyện chỉ là căn nhà nhỏ lợp tôn nằm giữa đồi. Vài bóng đèn yếu ớt treo trước sân. Giáo dân ngồi chen chúc trên những băng ghế cũ, vừa thấy cha đến đã mừng rỡ chạy ra: “Cha đến rồi!”

Tôi đứng nhìn vị linh mục ‘dòng’ bước xuống xe với đôi giày đầy bùn đất. Ngài mệt đến mức lưng áo ướt đẫm, vậy mà vẫn cười thật tươi và bắt tay từng người.

Đêm đó, tôi nằm trên tấm phản gỗ, tiếng côn trùng và tiếng gió rít giữa núi đồi. Tôi chợt nhớ đến suy nghĩ ngày bé của mình: “Đi tu chắc sướng lắm.” Và rồi, tôi bật cười…Vì hóa ra, đời tu không phải là con đường để tìm cái giàu hay sự kính trọng. Nhất là với người Hiến Sĩ.

Người Hiến Sĩ được gọi để đi đến những nơi khó khăn nhất, nghèo nhất, bị bỏ rơi nhất. Có khi là những nơi chẳng ai biết tên. Có khi sống nhiều năm ở một vùng truyền giáo xa xôi rồi lặng lẽ già – chết đi ở đó; chẳng ai tung hô, chẳng ai thấy những đêm sốt rét giữa rừng, cũng chẳng ai thấy những lần ngã xe giữa đường núi hay những bữa cơm vội vàng bên giáo dân nghèo.

Người ta chỉ thấy một linh mục đứng trên bàn thờ với nụ cười bình an. Còn phía sau nụ cười ấy là cả một đời dâng hiến trong thinh lặng.

Đêm hôm đó, giữa vùng núi tối đen và lạnh buốt, tôi suy nghĩ về cuộc đời và tự nhủ: khi thật sự bước vào đời tu ‘dòng’, tôi lại hiểu có những người chọn sống nghèo đi, nhỏ bé hơn, để người khác tìm thấy bình an và hy vọng nơi Thiên Chúa. Và có lẽ, đó mới là sự giàu có thật sự của đời dâng hiến. Các ngài luôn đi về phía những nơi bị bỏ quên; Là những giáo điểm vùng sâu chưa có nhà thờ tử tế. Là những bản làng dân tộc cách xa thành phố hàng chục cây số. Là những vùng biên giới nghèo đến mức trẻ con đi chân đất, người già đau bệnh cũng chẳng dám xuống bệnh viện! Và với họ, sự giàu có trong đời tu là đến những nơi mà người khác chẳng muốn đến!

……..