Đức khó nghèo tự nguyện luôn được xem là yếu tố thiết yếu của đời sống thánh hiến. Không có đức khó nghèo, chúng ta không thể hiểu được ý nghĩa của việc bước theo Đức Kitô, Đấng đã tự hủy mình, mặc lấy thân phận tôi tớ (x. Pl 2,7), và trở nên nghèo khó để nhờ sự nghèo khó của Người, chúng ta được trở nên giàu có (x. 2 Cr 8,9). Cũng không có đức khó nghèo, chúng ta không thể đáp ứng những điều kiện căn bản để tận hiến phục vụ Nước Thiên Chúa, đó là khiêm nhường, siêu thoát khỏi của cải vật chất và hoàn toàn sẵn sàng sống hiệp thông cũng như dấn thân phục vụ.Đức khó nghèo chính là mối phúc nền tảng trong chương trình sống của Đức Giêsu: “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ” (Mt 5,3). Người có tâm hồn nghèo khó là người tự do, rộng mở để đón nhận mọi sự phong phú của Nước Thiên Chúa. Đó là giá trị Tin Mừng cốt yếu của đức khó nghèo tự nguyện. Mọi tu sĩ đều đón nhận đức khó nghèo như một biểu hiện của khát vọng vô điều kiện muốn bước theo Đức Kitô và như dấu chỉ của việc tìm kiếm đức ái trọn hảo.
Tuy nhiên, việc áp dụng lời khuyên Phúc Âm về đức khó nghèo không có những quy định cụ thể rõ ràng như đức khiết tịnh và đức vâng phục. Không có một hình thức nghèo khó tuyệt đối duy nhất. Lịch sử đời sống thánh hiến cho thấy đức khó nghèo được thực hành theo nhiều cách khác nhau, tùy thuộc vào từng thời đại, bối cảnh văn hóa – xã hội, các trào lưu linh đạo và mục tiêu riêng của mỗi Hội Dòng.Vì thế, có thể phân biệt đức khó nghèo đan tu, trong đó tu sĩ từ bỏ mọi sự nhưng đan viện lại có xu hướng ngày càng trở nên giàu có; đức khó nghèo theo đặc sủng của thánh Phanxicô Assisi và các dòng hành khất, với chứng tá tập thể về sự nghèo khó triệt để; và đức khó nghèo tông đồ mang tính thực hành của Dòng Tên cùng các Hội Dòng hiện đại khác, vốn tìm cách thích nghi với những đòi hỏi của sứ vụ trong tinh thần siêu thoát và sẵn sàng lên đường truyền giáo.
Chính trong hình thức thứ ba này, chúng ta nhận ra những nét căn bản của đức khó nghèo Hiến Sĩ. Đó là sự nghèo khó của người, như các Tông đồ, từ bỏ mọi sự để bước theo Đức Kitô và hoàn toàn tự do dấn thân thúc đẩy Nước Thiên Chúa bằng việc rao giảng Tin Mừng cho người nghèo. Lý tưởng tông đồ này mang những nét đặc thù nhờ đời sống thiêng liêng mạnh mẽ của Đấng Sáng lập và nhờ đặc sủng của ngài tiếp tục hiện diện cách bền vững trong Hội Dòng.Mặt khác, công cuộc canh tân của Công đồng Vaticanô II và thời kỳ hậu Công đồng đã giúp Hội Dòng khám phá một cách nhìn mới và một phương thức sống mới đối với những kho tàng phong phú trong linh đạo riêng của mình. Trước hết, chúng ta sẽ tìm hiểu tư tưởng của Đấng Sáng lập về đức khó nghèo qua chính đời sống của ngài và cách ngài đưa lý tưởng ấy vào Hiến Pháp và Quy Luật. Tiếp đến, chúng ta khảo sát tiến trình phát triển trong lịch sử qua các tài liệu như thư từ của Đấng Sáng lập và văn kiện các Tổng Tu nghị. Sau cùng, chúng ta phác họa chân dung đức khó nghèo Hiến Sĩ trong thế giới hôm nay, dưới ánh sáng của Hiến Pháp và Quy Luậtmới, giáo huấn của Hội Thánh và những nhu cầu cấp bách của người nghèo mà chúng ta được sai đến để loan báo Tin Mừng.
Đức khó nghèo trong cuộc đời thánh Mai Thiên Lộc
Mai Thiên Lộc sinh trưởng trong một gia đình quý tộc khá giả, phần nào có khuynh hướng phô trương sự sung túc của mình. May thay, Thiên Chúa đã ban cho cậu bé một trái tim đầy lòng trắc ẩn và quảng đại, như những câu chuyện về thời thơ ấu của ngài cho thấy. Chẳng hạn, có lần ngài đã tặng chính quần áo của mình cho con trai một người đốt than. [1] Chính đức tính ấy đã giúp ngài không bị cuốn vào lối ích kỷ tinh vi của tầng lớp xã hội mà ngài thuộc về.Mặt khác, những năm tháng lưu vong đầy cay đắng đã giúp ngài cảm nhận sự thiếu thốn bằng chính thân thể mình và hiểu thế nào là sống nhờ lòng quảng đại của người khác. Từ Trường Quý tộc ở Turin, ngài đến sống tại nhà ông Don Bartolo Zinelli ở Venezia, nơi ngài nhận được ảnh hưởng tốt đẹp như một món quà của Chúa Quan Phòng. Sau đó, ngài đến Napoli và lưu trú tại khách sạn Chapeau-Rouge, phù hợp với hoàn cảnh của một người lưu vong. Chính tại đây, ngài đã trải qua “những giờ phút đen tối và mệt mỏi nhất trong cuộc đời lưu vong”. [2]Cuối cùng, tại Palermo, ngài được Công tước và Nữ Công tước Cannizzaro đón nhận vào gia đình như con ruột. Từ đó, ngài hòa mình vào đời sống xa hoa của giới quý tộc. Tuy nhiên, ảnh hưởng của người mẹ thứ hai đạo đức đã giúp ngài không bị quyến rũ bởi sự giàu sang và vẫn duy trì mối liên hệ với người nghèo thông qua việc tham gia phân phát những khoản bố thí quảng đại của bà.
Khi Mai Thiên Lộc trở về quê hương lúc hai mươi tuổi, những giấc mơ về sự nghiệp lớn lao và tâm thức quý tộc của ngài bị lay chuyển mạnh mẽ trước những đổi thay trong đời sống của người dân bình thường. Ngài trải qua vài tháng buồn chán tại điền trang Saint-Laurent, nơi ngài cố thể hiện vai trò “ông chủ điền trang” [3] giữa những người nông dân vốn căm ghét chế độ cũ. Dự định kết hôn vì lợi ích tài chính cũng thất bại, bởi ngài mong muốn có “một người vợ thật giàu có”. Khi người thiếu nữ được nhắm đến chỉ có của hồi môn 40.000 quan Pháp, Mai Thiên Lộc thốt lên: “Trong khi tôi muốn 150.000!” [4] Ngài bắt đầu tính chuyện trở lại Sicilia để xây dựng một sự nghiệp vẻ vang, nhưng không xin được hộ chiếu.
Những giấc mơ vàng son cũng như những thất vọng cay đắng của chàng hiệp sĩ trẻ đã tan biến trong dòng nước mắt ngài tuôn trào vào một ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, khi đứng trước hình ảnh Đức Giêsu nghèo khó, tan nát và bị nghiền nát trên thập giá. Từ cuộc gặp gỡ với Đấng Cứu Độ, quyết định mang tính bước ngoặt đầu tiên trong đời Mai Thiên Lộc đã nảy sinh: ngài sẽ trở thành linh mục, một linh mục dành cho người nghèo.Trong thư gửi mẹ, ngài viết:“Có Chúa làm chứng cho con, điều Người muốn nơi con là từ bỏ một thế giới mà ở đó, việc tìm kiếm ơn cứu độ gần như không thể thực hiện được, bởi tinh thần bội giáo đang chi phối quá mạnh; con sẽ chuyên tâm phụng sự Người và cố gắng khơi dậy đức tin đang dần lụi tàn nơi người nghèo.” [5]Quyết định này đòi hỏi ngài phải thực hiện một hành vi từ bỏ bản thân không dễ dàng, bởi nó đi ngược lại tâm thức của tầng lớp xã hội mà ngài xuất thân. Tại Đại chủng viện Saint-Sulpice, những thực hành khổ chế nghiêm ngặt đã giúp ngài đạt được sự tự do nội tâm ấy.Sám hối và khó nghèo luôn gắn bó mật thiết với nhau. Những truyền thống quý tộc và sở thích cá nhân trước đây khiến Mai Thiên Lộc yêu thích những vẻ ngoài biểu thị địa vị cao quý của mình. Ngài chăm chút tỉ mỉ kiểu tóc, tóc mai và y phục để làm nổi bật dòng dõi cũng như danh tiếng. Nhưng từ khi bước vào chủng viện, ngài từ bỏ những điều phù phiếm ấy như một phương thế khổ chế. Ngài quyết tâm:“Để đền bù cho những tiện nghi mà tôi đã quá nuông chiều bản thân khi còn sống giữa thế gian, cũng như cho sự ham thích một số phù phiếm, tôi sẽ thực hành đức khó nghèo trong phòng riêng và sống đơn sơ khi ra ngoài. […] Tôi sẽ tự lo những nhu cầu của mình, tự quét phòng, v.v.” [6]Ngài chỉ giữ lại những gì tối thiểu cần thiết: một chiếc giường đơn có nệm, một chiếc bàn và ba chiếc ghế mây. Ngài viết: “Tuy nhiên, tôi không nhớ căn phòng đẹp đẽ của mình ở Aix, bởi nó không còn phù hợp với sở thích của tôi, cũng chẳng tương hợp với sự đơn sơ mà tôi hy vọng sẽ thực hành suốt phần đời còn lại.” [7]Ngài còn khẳng định: “Dù là để sống phù hợp hơn với đức khó nghèo theo Tin Mừng, hay để giảm bớt tối đa những chi phí mà tôi gây ra cho anh chị em, tôi tuyệt đối không thuê người hầu chăm sóc phòng mình.” [8]Khi được tặng một sợi dây chuyền vàng, ngài xem đó là “một món đồ vô ích”. Ngài giải thích: “Khi còn sống giữa thế gian, tôi rất mong có một sợi dây chuyền vàng; nhưng ngày nay, nó sẽ khiến tôi lúng túng. Hơn nữa, sở thích của một người thuộc hàng giáo sĩ tất nhiên phải khác với sở thích của một giáo dân, và về phương diện này, Thiên Chúa quả thật đã chúc phúc cho tôi.” [9]
Việc khổ chế nghiêm ngặt và thực hành khó nghèo bên ngoài nơi Mai Thiên Lộc được hoàn tất bằng những hy sinh nội tâm, tinh thần từ bỏ theo Tin Mừng và tâm hồn khó nghèo. Những điều ấy khơi dậy nơi ngài ước muốn phục vụ Hội Thánh ở những vị trí thấp hèn nhất và trong những công việc khiêm tốn nhất. “Khi người chủng sinh trẻ tuổi miền Provence dần từ bỏ những khuynh hướng ích kỷ và tâm thức quý tộc, ơn gọi của ngài cũng ngày càng trở nên rõ ràng và vị tha hơn.” [10] Tất cả diễn ra trong bối cảnh linh đạo Sulpice đòi hỏi sự nghiêm túc cao độ.
Khi trở thành linh mục rồi giám mục, ngài vẫn trung thành với nếp sống khắc khổ và khó nghèo đã thực hành từ thời chủng viện, đồng thời giữ vững những nguyên tắc linh đạo đương thời. Ngài nhìn nhận đức khó nghèo tự nguyện như một phương thế đền tội, thanh luyện nội tâm, làm chủ những khuynh hướng của con người cũ và đồng hình đồng dạng với Đức Kitô Cứu Thế. Càng hiểu rõ đặc sủng của mình, ngài càng xác tín rằng đức khó nghèo là yếu tố không thể thiếu để hình thành con người tông đồ.
Năm 1812, một năm sau khi chịu chức linh mục, ngài soạn một Quy Luật sống mà ngài sẽ trung thành thực hành suốt đời. Ngài nhấn mạnh những việc khổ chế cần thiết để bước theo Đức Kitô, Đấng có “toàn bộ cuộc đời là thập giá và tử đạo”. [11] Khắc khổ, tiết độ và khó nghèo phải là những dấu chỉ đặc trưng của người môn đệ Đấng Cứu Độ:“Vì thế, tôi phải ngủ ít, ăn uống thanh đạm, làm việc chăm chỉ và không than phiền. […] Không mang tất lụa, không dùng dây thắt lưng bằng lụa, không chải tóc cầu kỳ. […] Khi được tự do lựa chọn số lượng và phẩm chất các món ăn, tôi phải chọn những thứ bình thường và thô sơ nhất: một miếng thịt luộc hoặc nướng, ít rau hay trứng. […] Hầu như suốt đời tôi chỉ uống nước, vì thế tôi không cần rượu, lại càng không cần rượu mạnh.” [12]Khi người cậu Fortuné được bổ nhiệm làm giám mục, Mai Thiên Lộc khuyên cậu mình sống theo chương trình sau:“Chúng ta hãy chọn thánh Charles và thánh Phanxicô Salê làm bổn mạng và mẫu gương; nhà của chúng ta sẽ là một chủng viện về nề nếp; đời sống của ngài sẽ là gương sáng cho các linh mục. […] Ghê sợ sự phô trương, yêu thích sự đơn sơ, tiết kiệm để có thêm phương tiện đáp ứng nhu cầu của người nghèo… cùng mọi điều khác có thể khơi dậy lòng nhân hậu và trái tim quảng đại của ngài. Biết bao điều kỳ diệu sẽ phát sinh từ một nếp sống đáng ngưỡng mộ như thế!” [13]
Khi phác họa chân dung thiêng liêng của Đức cha Mai Thiên Lộc, linh mục Jean Leflon, sau khi nhấn mạnh tinh thần đền tội sâu sắc cùng việc ăn chay và kiêng khem nghiêm ngặt của ngài, đã viết:“Sự huy hoàng giàu sang mà chức vụ giám mục buộc ngài phải thể hiện trong các nghi lễ công khai tương phản với sự nghèo khó trong đời sống riêng tư. Khi xuất hiện trước công chúng với tư cách giám mục, ngài tuân theo những quy định phụng vụ trong các nghi lễ tôn giáo và đòi hỏi những quyền lợi mà lễ nghi xã hội quy định trong các buổi tiếp tân dân sự. […] Nhưng trong đời sống riêng tư, không gì đơn sơ hơn cách sống hoàn toàn giản dị, gần như đan tu, của ngài giữa các tu sĩ Hiến Sĩ. […] Khi xuất hiện trước công chúng, ngài ăn mặc chỉnh tề; nhưng tại nơi nghỉ dưỡng Saint-Louis, ngài vui vẻ mặc chiếc áo dòng cũ, vá víu, gần như mất hết khuy và đường viền trang trí. Ngài nói: ‘Tôi là giám mục, nhưng tôi cũng đã khấn khó nghèo.’ […] ‘Giá mà họ thấy được những gì ở bên dưới!’ ngài vừa cười vừa nói. […] Đức khó nghèo mà Đức cha Mai Thiên Lộc thực hành trong đời sống cá nhân càng làm cho ngài thêm cảm thông và quảng đại với người nghèo; nhờ đó, ngài duy trì truyền thống của gia đình mình và của các hoàng thân giám mục thời chế độ cũ.” [14]
Tình yêu của Mai Thiên Lộc đối với đức khó nghèo – “nhân đức quý giá ấy” [15] – khiến ngài sẵn lòng chấp nhận những bất tiện và thiếu thốn đi kèm với việc thực hành. Chẳng hạn, trong thời gian lưu trú tại Rôma, ngài thay quần áo ba lần mỗi ngày để tránh làm chiếc áo dòng mới bị hao mòn quá mức. [16] Ngài cũng từ chối những chuyến đi thú vị hoặc những chức vụ giáo sĩ có thể mang lại lợi ích cho mình. [17]Sự cẩn trọng của ngài trong việc giữ lời khấn khó nghèo thể hiện ngay cả qua những chi tiết nhỏ. Khi đến Paris cùng người cậu, ngài tranh thủ may một chiếc áo dòng đơn giản để giữ gìn chiếc áo bằng vải tốt mà mình đang có. Sau đó, ngài viết cho cha Tempier:“Có lẽ tôi nên tận dụng thời gian lưu lại đây, nhưng tôi nghĩ mình cần hỏi ý kiến cha để khỏi đi chệch khỏi tinh thần khó nghèo. […] Tôi cảm thấy khó chịu khi mỗi lần cần mua thứ gì cho bản thân khốn khổ này, tôi lại buộc phải tự mình quyết định.” [18]Hẳn nhiên, lòng quý trọng sâu xa của Mai Thiên Lộc đối với đức khó nghèo là ân sủng đặc biệt Thiên Chúa ban, giúp trái tim ngài thoát khỏi mọi sức hấp dẫn của tiền bạc và sự tán thưởng của người đời. Ân sủng ấy mở lòng ngài đón nhận vẻ đẹp của việc bước theo Đức Giêsu. [19]
Điều mà chính mình đã sống với lòng nhiệt thành và nỗ lực quảng đại, Mai Thiên Lộc cũng mong muốn các nhà truyền giáo của mình thực hành như một lý tưởng Tin Mừng thiết yếu cho công cuộc tông đồ mà Thiên Chúa đã khơi lên trong ngài.
Đức khó nghèo trong những giai đoạn đầu của Hội Dòng
Xác tín rằng mình được mời gọi quy tụ một nhóm nhà truyền giáo để phục vụ những người ở tầng lớp thấp kém nhất trong xã hội, Mai Thiên Lộc bắt đầu tìm kiếm những người đồng hành. Lúc ấy, ngài chưa nghĩ đến việc khấn dòng, nhưng đã mong muốn có những người hoàn toàn siêu thoát khỏi các mối bận tâm trần thế, không bị chi phối bởi lòng tham, sự tìm kiếm tiện nghi hay cuộc sống dễ dãi. Đó phải là những người có ý chí và can đảm bước theo các Tông đồ, sẵn sàng dâng mình cho vinh quang Thiên Chúa và phần rỗi các linh hồn, không mong đợi phần thưởng nào ở đời này ngoài những đau khổ mà Đấng Cứu Độ đã báo trước cho các môn đệ đích thực của Người. [20]Những ứng sinh đầu tiên, đặc biệt là cha Tempier, đã tìm thấy nơi Mai Thiên Lộc cùng một lý tưởng và mong đợi ngày được sống chung trong tu viện đổ nát tại Aix.
Ngày 25 tháng 1 năm 1816, khi quy tụ những người bạn đồng hành đầu tiên, Mai Thiên Lộc trình lên cácTổng Đại diện của giáo phận đơn xin chuẩn nhận cộng đoàn truyền giáo mới. Kèm theo đó là một Quy Luật ngắn gọn, có thể xem như mầm mống của Hiến Pháp và Quy Luật sau này. Dù chưa đề cập đến lời khấn, văn bản đã nói đến việc thực hành “các nhân đức tu trì” theo gương các dòng tu chính thức.Lý tưởng ấy được thể hiện cụ thể trong lòng nhiệt thành của những ngày đầu thành lập. Bên cạnh tinh thần tông đồ và đời sống huynh đệ gắn bó, cộng đoàn còn thể hiện một đức khó nghèo đậm nét Tin Mừng: mỗi người tự nguyện và quảng đại đón nhận những gian khổ cùng sự thiếu thốn tiện nghi. Theo lời Đức cha Jacques Jeancard, lòng tận hiến đã biến nơi ở tạm bợ ấy thành niềm vui, không ai bận tâm đến sự thoải mái vật chất. Đời sống khó nghèo được mọi người yêu mến; thỉnh thoảng họ còn vui vẻ đùa với nhau và chúc mừng nhau vì được sống phù hợp với đời sống của Thầy Chí Thánh và các Tông đồ. [21]
Đấng Sáng lập thường nhớ lại những năm tháng đầu tiên của cộng đoàn với niềm vui và nỗi hoài niệm. Ngày 24 tháng 1 năm 1831, ngài viết cho cộng đoàn tập sinh và tu sĩ học viện mới được thiết lập tại Billens, nhắc lại cảnh sống thiếu thốn khi ngài cùng cha Tempier bắt đầu đời sống chung. Nơi ở khi ấy chẳng có gì huy hoàng: chiếc giường của ngài được đặt trong lối đi nhỏ dẫn đến thư viện; căn phòng lớn vừa là phòng ngủ của cha Tempier, vừa là nơi sinh hoạt chung. Cả ba người chỉ có một ngọn đèn, được đặt ở cửa ra vào khi đến giờ ngủ để soi sáng cho mọi người.
“Bàn ăn chỉ là những tấm ván ghép lại, đặt trên hai chiếc thùng cũ. Đấng Sáng lập nhận định rằng từ khi khấn dòng, cộng đoàn chưa bao giờ được hưởng một sự khó nghèo quý giá như thế. (Ngài cố ý nhắc lại sự thiếu thốn hoàn toàn tự nguyện này, bởi thật ra ngài có thể dễ dàng đưa mọi thứ cần thiết từ nhà mẹ đến.) Qua đó, ngài muốn cho thấy Thiên Chúa nhân lành đã âm thầm hướng dẫn cộng đoàn đến với các lời khuyên Phúc Âm mà sau này họ sẽ tuyên khấn. Chính nhờ trải nghiệm mà họ hiểu được giá trị của những lời khuyên ấy. Dù sống thiếu thốn, họ vẫn giữ được niềm vui; trái lại, sự tương phản giữa nếp sống mới và cuộc sống trước kia thường khiến họ cười vang với nhau. [22]
Tinh thần ấy cũng được thể hiện rõ trong cuộc truyền giáo tại Rognac năm 1819. Không có gì được chuẩn bị trước cho các nhà truyền giáo là cha Henry Tempier, Pierre-Nolasque Mye và François Moreau. Họ phải xoay xở để tìm ba tấm nệm rơm, ba chiếc chăn cũ, ít bánh mì và một chút thức ăn. Cha Tempier viết cho Đấng Sáng lập rằng họ đang sống như các Tông đồ. Ngài nhận xét rằng ngay cả thánh Anphongsô cũng khó có thể cho rằng đồ đạc và thức ăn của họ vượt quá mức cần thiết. Các nhà truyền giáo hạnh phúc với nếp sống ấy đến nỗi, nếu không bao giờ được trải nghiệm điều gì khác, họ vẫn sẽ muôn lần cảm tạ Chúa vì đã ban cho họ phương tiện để phần nào bước theo các thánh và thực sự trở thành những nhà truyền giáo. [23]Cha Mai Thiên Lộc đáp lại rằng cha Tempier thật có lý khi sống trên đống rơm ấy, và khẩu phần ăn hết sức đạm bạc của ngài khiến cha cũng thèm được chia sẻ. Theo Đấng Sáng lập, đây mới thực sự là lần đầu tiên họ sống đúng với điều mình được mời gọi; nếu chỉ do ngài quyết định, ngài cũng muốn được sống trong hoàn cảnh ấy. [24]
Một biểu hiện nổi bật khác của tinh thần này là ước muốn mãnh liệt được khấn khó nghèo, xuất hiện trong cộng đoàn Laus năm 1820. Chính ước muốn ấy đã trở thành động lực ban đầu thúc đẩy việc đưa lời khấn khó nghèo vào Quy Luật. [25]
Tinh thần đáng quý nơi cộng đoàn đầu tiên cho thấy lý tưởng Tin Mừng đã thực sự hiện diện trong đời sống các tu sĩ Hiến Sĩ. Chẳng bao lâu sau, lý tưởng ấy được chính thức ghi nhận trong Quy Luật của các Nhà Truyền giáo miền Provence: ban đầu như một nhân đức tông đồ, rồi trở thành cam kết được xác nhận bằng lời khấn dòng.
Đức khó nghèo trong Quy Luật của Đấng Sáng lập
Trong Quy Luậtđầu tiên được soạn thảo năm 1818, Đấng Sáng lập dành phần thứ hai để nói về các lời khuyên Phúc Âm, gồm: tinh thần khó nghèo, lời khấn khiết tịnh, lời khấn vâng phục và lời khấn kiên tâm. Ban đầu, ngài không cho rằng các lời khấn dòng là điều cần thiết. Tuy nhiên, ngài sớm xác tín rằng nếu không có những cam kết thánh thiêng ấy, ngài sẽ khó tìm được những người tông đồ như mình mong ước cho công cuộc truyền giáo. Vì thế, ngài đưa ba lời khấn nói trên vào Quy Luật, dù gặp phải một số phản đối từ vài thành viên.Riêng đối với đức khó nghèo, ngài chưa cho rằng thời điểm đã chín muồi để buộc các thành viên phải khấn. Ngài chỉ quy định đây là một nhân đức thiết yếu đối với đời sống nhà truyền giáo, đồng thời hy vọng cộng đoàn sớm có thể tiến thêm bước nữa để chính thức tuyên khấn.
Trong phần nói về tinh thần khó nghèo, Đấng Sáng lập viết:“Những lý do phù hợp với hoàn cảnh hiện tại khiến chúng tôi tạm thời chưa thực hiện ý định này [đưa lời khấn khó nghèo vào Quy Luật]. Vì thế, chúng tôi để các Tổng Tu nghị kế tiếp hoàn thiện điểm này trong Quy Luật, khi các ngài nhận định trước mặt Thiên Chúa rằng thời điểm hành động đã đến. Trong lúc chờ đợi, dù chưa bị ràng buộc bằng lời khấn, chúng tôi sẽ cố gắng nắm vững tinh thần của nhân đức quý giá này, yêu mến và thực hành nhân đức ấy cách tốt đẹp đến mức những người có khả năng nhận ra các giá trị Kitô giáo cũng có thể thấy rõ.” [26]Ý hướng căn bản của cha Mai Thiên Lộc rất rõ ràng: ngài muốn các tu sĩ Hiến Sĩ thực hành đức khó nghèo với lòng quảng đại đến mức người khác có thể nhận thấy nơi họ hoa trái của lời khấn dòng, ngay cả khi lời khấn ấy chưa được chính thức tuyên hứa. Dù chưa có cam kết pháp lý, đức khó nghèo đã là một lý tưởng sống mà họ mong muốn thực hiện ngay khi có thể. Thật vậy, những quy định về đức khó nghèo trong Quy Luậtnghiêm ngặt không kém các hội dòng khắc khổ nhất. Khi lời khấn khó nghèo được chấp nhận, các quy định ấy không cần phải thay đổi. Cuối phần này, Đấng Sáng lập nhắc lại nguyên tắc của mình: “Trong khi chờ đợi các quy định ấy được thực hành nghiêm túc, chúng tôi sẽ cố gắng làm quen với chúng bằng cách đem ra thực hành.” [27]
Nội dung các quy định này có thể chia thành hai phần. Phần thứ nhất trình bày các nguyên tắc của thần học khổ chế; phần thứ hai đưa ra những chỉ dẫn cụ thể về các khía cạnh vật chất trong đời sống nhà truyền giáo, như thức ăn, y phục, phòng ở và đồ đạc. Cách phân chia ấy không có gì đặc biệt mới mẻ, nhưng cả hai phần đều phản ánh tư tưởng và tâm tình nội tâm của Mai Thiên Lộc, cũng như tinh thần ngài muốn khắc ghi nơi các tu sĩ Hiến Sĩ.
Phần thứ nhất là một bài trình bày dài về những lợi ích thiêng liêng và sự cần thiết của đức khó nghèo theo Tin Mừng, dựa trên Kinh Thánh và các tác giả linh đạo. Văn bản này tóm lược một chương trong tác phẩm nổi tiếng của Rodriguez, Thực hành sự trọn lành và các nhân đức Kitô giáo. [28] Khởi đi từ các bản văn Kinh Thánh và tư tưởng của thánh Phaolô, thánh Ambrôsiô, thánh Gioan Kim Khẩu, thánh Grêgôriô Cả và thánh Inhaxiô Loyola, Đấng Sáng lập chứng minh rằng sự siêu thoát và đức khó nghèo có vai trò căn bản trong đời sống Kitô hữu nói chung, đặc biệt trong đời sống tông đồ của người tu sĩ.Đức khó nghèo giải phóng trái tim để chiến đấu chống lại ma quỷ và giúp con người sẵn sàng đón nhận mọi nhân đức. Đây là thành lũy vững chắc của các hội dòng và là yếu tố thiết yếu để bước theo Đức Kitô. Đấng Sáng lập nhấn mạnh rằng những lý do ấy đủ để Hội Dòng quyết định đón nhận đức khó nghèo như một yếu tố thiết yếu của đời sống tu trì trọn hảo, bởi Hội Dòng muốn bước theo các Kitô hữu đầu tiên và noi gương những dòng tu thánh thiện nhất. Ngài còn cho rằng, vì lòng tham lam đã gây ra nhiều tàn phá trong Hội Thánh thời bấy giờ, Hội Dòng cần đền bù cho tội lỗi ấy bằng cách tự nguyện sống nghèo khó như các thánh đi trước. [29]Như vậy, bên cạnh những lý do truyền thống mang tính khổ chế (từ bỏ và sống tiết độ để thanh luyện tâm hồn, chiến đấu chống sự dữ) cũng như lý do thần bí (là noi gương Đấng Cứu Độ), cha Mai Thiên Lộc còn nhấn mạnh việc noi gương những Dòng Tu có kỷ luật nghiêm ngặt nhất. Điều này liên quan đến mục tiêu thứ yếu mà ngài đặt ra cho Hội Dòng: góp phần lấp đầy khoảng trống do cuộc Cách mạng Pháp gây ra trong đời sống tu trì. Ngài cũng nhấn mạnh nhu cầu đền bù những tàn phá do lòng tham lam gây nên.Đặc biệt, Mai Thiên Lộc lưu ý rằng lời khuyên chung của các Giáo phụ áp dụng cách riêng cho “những người thợ Tin Mừng được kêu gọi chiến đấu chống lại ma quỷ”. [30] Điều này làm nổi bật chiều kích tông đồ của đức khó nghèo.
Phần đưa ra những chỉ dẫn cụ thể được lấy gần như nguyên văn từ Quy Luậtcủa thánh Anphongsô, có một số sửa đổi và bổ sung; một vài điều trong số đó được rút ra từ các nghị quyết của các Tổng Tu nghị Dòng Chúa Cứu Thế năm 1802.Một số quy định chính nêu rõ rằng mọi sự phải được dùng chung trong Hội Dòng và không ai được sở hữu tài sản dưới danh nghĩa cá nhân. Các nhà phải có trách nhiệm cung cấp cách tiết kiệm những gì cần thiết. Là những người nghèo, các tu sĩ phải bằng lòng với khẩu phần đạm bạc; phòng ở phải nhỏ, đồ đạc đơn sơ và giống nhau; y phục của nhà truyền giáo phải nghèo khó nhưng sạch sẽ, phù hợp với phẩm giá của một linh mục chính trực. Theo tinh thần lời khấn, các tu sĩ cũng phải tránh tìm kiếm danh dự, bổng lộc hay chức vụ giáo sĩ bên ngoài Hội Dòng. [31]Mọi quy định phải được tuân giữ hết sức chính xác, với những hình phạt nghiêm trọng, thậm chí có thể bị khai trừ khỏi Hội Dòng. Dù gặp hoàn cảnh túng thiếu đến đâu, các tu sĩ cũng không được đi xin bố thí, nhưng phải trông cậy vào sự trợ giúp của Chúa Quan Phòng. Mọi quà tặng dành cho một thành viên đều thuộc về Hội Dòng. Không ai được giữ tiền riêng, kể cả tiền được giao giữ hộ. Bề trên cũng không được để thành viên cất giữ trong phòng những đồ vật riêng biệt hoặc đặc biệt, chẳng hạn quần áo, sô-cô-la, rượu mạnh, trái cây, mứt, thuốc lá hay những thứ tương tự. [32]
Một chỉ dẫn dành cho các bề trên, không lấy từ Quy Luậtcủa thánh Anphongsô, bổ sung thêm tinh thần cho những quy định ấy: “Thỉnh thoảng, bề trên có thể để các thành viên trải nghiệm một sự thiếu thốn nào đó, không phải bằng cách tước đi những thứ cần thiết, nhưng nhằm giúp họ hiểu rằng người nghèo không phải lúc nào cũng có được cuộc sống thoải mái và mọi điều mình mong muốn. [33]Các quy định áp dụng trong những chuyến giảng đại phúc còn đưa ra những chỉ dẫn về việc đi lại và ăn uống. Các nhà truyền giáo phải tránh mọi hình thức kiểu cách và bằng lòng với những thức ăn bình thường, đơn sơ tại địa phương. [34] Trong những điều khoản về việc đền tội, Quy Luậtđề nghị sử dụng giường rơm và quy định rằng vào những ngày thường, bữa sáng chỉ gồm một miếng bánh mì khô. [35]
Khi đọc Quy Luậtđầu tiên, chúng ta nhận thấy Đấng Sáng lập quý trọng đức khó nghèo đến mức nào và ngài coi nhân đức này thiết yếu ra sao đối với những “con người tông đồ” mà ngài muốn quy tụ trong Hội Dòng. Dù có nhiều quy định pháp lý chi tiết, ngài vẫn truyền vào đó một tinh thần khổ chế mạnh mẽ, cùng một lý tưởng Tin Mừng và truyền giáo đích thực. Đối với ngài, đức khó nghèo là một phần thiết yếu trong khí giới của người Kitô hữu, nhất là người tông đồ được kêu gọi làm người chiến đấu và chứng nhân cho Nước Thiên Chúa giữa những người nghèo.
Trong các ấn bản Quy Luậttiếp theo khi Đấng Sáng lập còn sống, tinh thần và những quy định căn bản ấy vẫn được duy trì, dù có một số thay đổi về mặt pháp lý. Một sửa đổi quan trọng năm 1821 đã đưa lời khấn khó nghèo vào Quy Luật. Ngay trong kỳ tĩnh tâm tháng 5 năm 1818, cha Mai Thiên Lộc đã cho thấy mình sẵn sàng khấn khó nghèo và thực sự đã tự mình tuyên khấn mà không chậm trễ. [36]Năm 1820, cha Tempier cũng cảm thấy được ân sủng thúc đẩy mạnh mẽ để làm điều tương tự, nhưng ngài đặt điều kiện phải được Đấng Sáng lập chấp thuận. Các tập sinh và những tu sĩ Hiến Sĩ khác nhiệt thành mong đợi ngày được bày tỏ ước muốn từ bỏ mọi sự qua lời khấn. [37] Vì thế, Tổng Tu nghị năm 1821 quyết định rằng các tu sĩ Hiến Sĩ sẽ khấn khó nghèo cùng với những lời khấn khác. Từ đó, lời khấn khó nghèo luôn được nhắc đến trong Quy Luật. Câu sau đây được thêm vào phần mở đầu nói về giá trị của đức khó nghèo theo Tin Mừng: “Vì thế, lời khấn khó nghèo được quy định trong Hội Dòng chúng ta.” Đây là nguyên tắc căn bản mở ra một hướng đi và tạo động lực mới cho toàn bộ những chỉ dẫn đã được nêu trong Quy Luậtđầu tiên.
Hiến Pháp và Quy Luậtđược Tòa Thánh phê chuẩn ngày 17 tháng 2 năm 1826 chỉ có một số sửa đổi nhỏ, chủ yếu về văn phong, do bản văn được dịch sang tiếng Latinh. Chẳng hạn, quy định năm 1818: “Mọi sự phải được dùng chung trong Hội Dòng và không ai được sở hữu bất cứ thứ gì dưới danh nghĩa cá nhân” được sửa theo yêu cầu của vị hồng y phụ trách hồ sơ thành: “Mọi sự trong Hội Dòng phải được dùng chung cho các nhu cầu hằng ngày.” [38]Trong chương ba của phần thứ hai, Hiến Pháp dành một đoạn nói về việc đi lại. Một điều khoản quan trọng quy định rằng các tu sĩ phải kiên nhẫn, thậm chí vui vẻ, chấp nhận những bất tiện và thiếu thốn của đức khó nghèo mà mình đã khấn, đồng thời ưa thích hoàn cảnh ấy hơn đời sống tiện nghi, bởi nó phù hợp hơn với tinh thần khổ chế cần hướng dẫn người thợ Tin Mừng. [39] Đây là lời nhắc nhở về tinh thần khắc khổ luôn phải soi dẫn người tông đồ.
Hiến Pháp năm 1853 lặp lại các quy định của những bản văn trước, chỉ có hai thay đổi nhỏ trong phần nói về việc đền tội. Vào bữa sáng, một món súp đơn giản được phép dùng thay cho bánh mì khô; [40] còn quy định về nghỉ ngơi được sửa thành: “Thông thường, các nhà truyền giáo của chúng ta sẽ nghỉ trên một chiếc giường đơn sơ.” [41] Những thay đổi này phản ánh các quyết định của các Tổng Tu nghị năm 1831, 1837 và 1843. [42]
Đó là cách đức khó nghèo tự nguyện được hiểu và trình bày trong Hiến Pháp và Quy Luậtkhi Đấng Sáng lập còn sống. Đức khó nghèo Hiến Sĩ là một nhân đức đòi hỏi cao và mang tính khổ chế nghiêm ngặt, không thua kém những hội dòng có kỷ luật khắt khe nhất. Tuy nhiên, sự nghiêm ngặt này không chỉ nhằm thanh luyện và giúp cá nhân trưởng thành trong đời sống nội tâm. Đó còn là đòi hỏi thiết yếu đối với người tông đồ muốn hiến thân vô điều kiện để rao giảng Nước Thiên Chúa, bằng cách sát bước theo Đức Giêsu Kitô, Thầy Chí Thánh đã chinh phục mình và trở thành kho tàng duy nhất của mình.Tư tưởng ấy được diễn tả bằng ngôn từ mạnh mẽ trong Lời tựa của Hiến Pháp và Quy Luật. Những người muốn bước theo Đức Giêsu Kitô, Thầy Chí Thánh, để đưa về với Người những linh hồn đã từ bỏ ách của Người, phải hoàn toàn từ bỏ chính mình; phải không ngừng tập luyện để trở nên khiêm nhường, hiền lành, vâng phục, yêu mến khó nghèo và sám hối, sống khổ chế, không quyến luyến thái quá với thế gian hay gia đình, nhưng đầy nhiệt huyết và sẵn sàng hy sinh của cải, tài năng, sự thoải mái, bản thân, thậm chí cả mạng sống vì tình yêu Đức Giêsu Kitô, vì việc phục vụ Hội Thánh và sự thánh hóa anh chị em mình. [43]Ý tưởng ấy cũng được diễn tả trong đoạn mô tả những phẩm chất cần có nơi ứng sinh: người muốn gia nhập Hội Dòng phải có lòng yêu mến sâu xa đối với Đức Giêsu Kitô và Hội Thánh Người, có trái tim tự do trước mọi quyến luyến lệch lạc với của cải trần thế, và có tinh thần vô vị lợi đến mức coi thường sự giàu sang, xem đó như rác rưởi, không tìm kiếm lợi ích nào khác ngoài Đức Giêsu Kitô. [44]
Đó là cách thức đức khó nghèo được trình bày chính thức trong đại gia đình Hiến Sĩ. Vấn đề đặt ra là cần xem xét liệu các nhà truyền giáo của cha Mai Thiên Lộc có thực sự sống lý tưởng khó nghèo ấy theo cách thức này hay không.
Đức khó nghèo nơi các tu sĩ Hiến Sĩ trong thời Đấng Sáng lập còn sống
Thật khó có thể kỳ vọng rằng toàn thể thành viên của một hội dòng rộng lớn, hiện diện trên khắp bốn châu lục, đều có thể sống trọn vẹn một lý tưởng cao đẹp như thế. Chúng ta phải thừa nhận rằng đã có những thiếu sót, cả nơi từng cá nhân lẫn trong đời sống cộng đoàn. Tuy nhiên, có hai yếu tố cho phép chúng ta tin rằng Hội Dòng vẫn trung thành với nguồn cảm hứng của Đấng Sáng lập. Thứ nhất là gương sống của những tu sĩ Hiến Sĩ nổi bật, những người đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử Hội Dòng với tư cách là những môn đệ xuất sắc hoặc những cộng sự quảng đại của ngài. Thứ hai là sự quan tâm sát sao của người cha của các tu sĩ Hiến Sĩ: trong suốt bốn mươi lăm năm lãnh đạo Hội Dòng, ngài luôn giữ liên lạc với các con, tận tình đưa ra lời khuyên, những đề nghị và đôi khi cả những lời phê bình nghiêm khắc.
Trong số những tu sĩ Hiến Sĩ nêu gương sáng về đức khó nghèo và tinh thần siêu thoát cách anh hùng, có thể kể đến các cha Tempier, Domenico Albini, Joseph Gérard và Đức cha Vital Grandin.
Cha Tempier, người được cha Yvon Beaudoin gọi là “người cha thứ hai của các tu sĩ Hiến sĩ”, đã để lại cho chúng ta những gương sáng thật cảm động. Chúng ta biết ngài đã vui lòng đón nhận hoàn cảnh nghèo khó cùng cực mà ngài phải đối diện trong sứ vụ tại Rognac năm 1819 [45], cũng như đã truyền đạt được cho các tập sinh tại Notre-Dame du Laus, vào năm 1820, ước muốn khấn giữ đức khó nghèo.Tiểu sử của ngài đã tóm lược tinh thần khó nghèo, một trong những nét đặc trưng xuyên suốt cuộc đời ngài, như sau:“Chúng ta còn nhớ rằng ngài là tu sĩ Hiến Sĩ đầu tiên khấn giữ đức khó nghèo vào năm 1820. Ngài đã trải qua năm mùa đông tại Laus mà không nhóm lửa sưởi ấm trong phòng. Tinh thần khó nghèo của ngài đã lan tỏa đến các tập sinh và tu sĩ đang theo học, đến mức gần như gây nên một vụ tai tiếng khi ngài đến Marseille với tư cách Tổng Đại diện vào năm 1823: ngài phải nhanh chóng may một chiếc áo dòng và mua một chiếc mũ. Trước chuyến đi Canada năm 1851, người ta khuyên ngài nên mua một chiếc áo khoác; ngài tìm được một chiếc áo đã qua sử dụng với giá 19 quan Pháp và không ngần ngại mặc nó ngay giữa thủ đô Luân Đôn. Như vậy, rõ ràng ngài đã vui vẻ đón nhận trách nhiệm nêu gương sống khó nghèo mà ngài vẫn khuyên dạy các tu sĩ đang theo học.” [46]
Cha Albini, người của Thiên Chúa đầy nhiệt huyết và anh hùng, đã loan báo Tin Mừng trên đảo Corse, nơi nhiều điều kỳ diệu và cuộc hoán cải diễn ra nhờ hoạt động của ngài. Ngài cũng nổi bật bởi đời sống khắc khổ và nghèo khó.Ngài ăn rất ít, thức ăn cũng đơn sơ; ngài tránh mọi thứ có vẻ tinh tế hoặc cầu kỳ, kể cả khi ở ngoài cộng đoàn và trong những thời kỳ truyền giáo căng thẳng nhất. Đức khó nghèo còn thể hiện qua y phục của ngài. Tại Corse, ngài chỉ có một chiếc áo dòng, và chiếc áo ấy cuối cùng cũng theo ngài xuống mồ. Áo luôn sạch sẽ nhưng đã sờn rách, các mép áo tưa đi; đôi khi ngài cũng không thể dùng áo choàng để che giấu tình trạng ấy. Khi lên đường giảng đại phúc, dù phải đi hàng tuần hay hàng tháng, ngài không mang theo quần áo nào khác ngoài những gì đang mặc, phó mình cho lòng bác ái của các gia đình đón tiếp. Nơi ở của ngài cũng nghèo nàn. Chỉ tại Vico, khi làm bề trên và được tự do chọn phòng, ngài đã chọn căn phòng nhỏ nhất, bất tiện nhất và thiếu thốn đồ đạc nhất. [47]
Đức khó nghèo của cha Joseph Gérard, vị Tông đồ của người Basotho, cũng mang tính anh hùng không kém. Dưới sự hướng dẫn nghiêm khắc của Đức cha François Allard, ngài thành lập các điểm truyền giáo với nguồn lực hết sức hạn hẹp. Ngài buộc phải xây dựng nhà cửa và lo liệu những công việc vật chất, trong khi lòng vẫn bừng cháy nhiệt huyết cứu rỗi các linh hồn. Khi còn đủ sức, ngài đi từ làng này sang làng khác trong những điều kiện khó khăn và dùng những thức ăn thô sơ của người dân bản địa. [48]Nói về chuyến thăm sứ vụ Thánh Mônica do cha Gérard thành lập và điều hành, cha Louis Soullier nhận xét rằng mọi sự tại khu định cư này đều mang dấu ấn của cảnh nghèo khó lớn lao. Sứ vụ chỉ nhận được khoảng 40 bảng mỗi năm từ vị Đại diện Tông tòa, khoản tiền hoàn toàn không đủ đáp ứng nhu cầu. [49]
Trong hàng ngũ những tu sĩ Hiến Sĩ xuất sắc, còn có thể kể tên nhiều người khác đã trung thành cao quý với lý tưởng siêu thoát do Mai Thiên Lộc sống và truyền lại. Đời sống truyền giáo, nhất là tại những vùng đất xa xôi, thường kéo theo nhiều hy sinh và đau khổ do khí hậu, thức ăn, điều kiện đi lại, sự nghèo khó của người dân và tình trạng vệ sinh thiếu thốn. Tuy nhiên, chính hoàn cảnh ấy cũng tạo ra những cơ hội đặc biệt để thực hành đức khó nghèo theo Tin Mừng ở mức triệt để nhất. Chúng ta đừng quên Đức cha Grandin, vị giám mục thánh thiện đã luôn mang theo mình tinh thần khó nghèo trong những chuyến hành trình dài và gian khổ.
Đấng Sáng lập thấu hiểu và trân trọng tinh thần anh hùng của các nhà truyền giáo. Ngài nêu gương họ để khích lệ tất cả các tu sĩ Hiến Sĩ:“Tôi còn có thể nói gì về các anh em ở Oregon và trên bờ sông Red River? Thức ăn của họ chỉ là một ít thịt muối; giường ngủ không có gì ngoài mặt đất trơ trụi, vậy mà họ vẫn mãn nguyện và hạnh phúc vì đang thi hành ý muốn Thiên Chúa. […] Những anh em đang tiến về vịnh Hudson trong thời tiết lạnh đến mức âm 30 độ, được chó kéo trên băng, buộc phải đào một hố trong tuyết để qua đêm, lấy chính tuyết làm giường ngủ, kể lại những cuộc phiêu lưu của mình với niềm vui khiến người nghe phải cảm phục. Mong rằng anh em cũng có được tinh thần ấy, dù sứ vụ của anh em ít gian khổ hơn sứ vụ của các anh em mình, bất chấp cái nóng làm anh em kiệt sức.” [50]Ngài còn nói: “Không ai trong chúng ta còn có lý do để than phiền bất cứ điều gì, bởi chúng ta đã có những người đi trước quảng đại đến thế […].” [51] Khi viết cho hội đồng phụ trách công cuộc Truyền bá Đức tin, Đức cha Mai Thiên Lộc lên tiếng bênh vực các con mình:“Khi biết những thiếu thốn mà các tu sĩ của chúng tôi phải chịu đựng để loan báo Tin Mừng cho các dân tộc bản địa […], chúng ta buộc phải khâm phục sức mạnh của ân sủng, nhờ đó họ vẫn tràn đầy niềm vui giữa biết bao hy sinh.” [52]
Tuy nhiên, người cha đã dành nhiều lời khen ngợi và khích lệ ấy đôi khi cũng phải nghiêm khắc khiển trách những thành viên đi chệch khỏi lý tưởng khó nghèo tông đồ được trình bày trong Hiến Pháp. Ngài nhiều lần phê bình cha Honorat, người mà ngài vẫn nhìn nhận là “một người có nhân đức nổi bật”, [53] vì những khoản chi tiêu mà cha cho phép trong cộng đoàn tại Nîmes, cũng như khuynh hướng khó sửa đổi trong việc xây dựng và sửa chữa công trình ở Canada và Pháp. [54] Ngài còn trách cha thiếu tiết độ trong ăn uống hằng ngày: “Không thể chấp nhận được việc cha ăn thịt ba lần mỗi ngày.” [55]Việc quản lý các công trình tại Canada cũng gây cho Đấng Sáng lập nhiều lo ngại, bởi tiền bạc được chi cho xây dựng với tốc độ có thể đưa Hội Dòng đến chỗ phá sản. Ngài cay đắng trách Đức cha Guigues, Giám tỉnh, vì đã cho xây một nhà thờ quá sang trọng và một ngôi nhà không thiếu tiện nghi nào:“Chẳng phải tốt hơn là xây dựng bớt huy hoàng một chút, để có thể chu cấp cho anh em mình những phương tiện cần thiết nuôi sống họ sao?” [56]Sự phô trương thiếu khôn ngoan ấy cũng không giúp thu hút ơn gọi: “Sự tráng lệ của ngôi nhà họ đã xây với chi phí quá lớn sẽ không phải là điều lôi kéo người khác đến với chúng ta.” [57]
Đấng Sáng lập cũng quan tâm đến đức khó nghèo trong các nhà đào tạo. Khi tập viện được chuyển đến Marseille năm 1826, ngài viết cho cha Tempier:“Tôi không thể nhắc lại quá nhiều rằng phải giữ sự đơn sơ và chỉ sử dụng những gì thật sự cần thiết. […] Các tập sinh có thật sự cần nệm trên giường không? Than ôi, chẳng phải chính chúng ta cũng nên tránh dùng nệm hay sao?” [58]Năm 1830, sau khi đưa các tu sĩ học viện đến Billens, ngài ở lại với họ vài ngày vui vẻ và khuyến khích họ chấp nhận một số thiếu thốn, chẳng hạn không uống rượu vang, vốn đắt đỏ tại vùng ấy và không phải thức uống thông thường của nông dân. Ngài nhận xét: “Sự thiếu thốn ấy chẳng khiến ai phải bận tâm; hơn nữa, nó phù hợp với tinh thần khó nghèo đến mức không ai nên tiếc nuối vì điều đó.” [59]
Đáng chú ý là trước các năm 1853 và 1856, xét trên bình diện toàn Hội Dòng, Đấng Sáng lập cũng như các Tổng Tu nghị chưa phải đưa ra những lời khiển trách nghiêm trọng. Trong thư luân lưu đầu tiên ngày 2 tháng 8 năm 1853, sau khi ghi nhận lòng nhiệt thành anh hùng và tinh thần hy sinh của phần lớn các tu sĩ, Đức cha Mai Thiên Lộc phê bình một số lạm dụng đã xuất hiện trong vài cộng đoàn liên quan đến nề nếp, vâng phục, đức ái, đức khó nghèo và những vấn đề khác. Ngài nhắc lại những lời quở trách nghiêm khắc mà thánh Anphongsô từng dành cho các tu sĩ của mình, rồi đưa ra lời nhắn nhủ đầy tình phụ tử của chính thánh nhân: “Hãy đọc và suy niệm các Quy Luậtthánh của anh em.” [60]Sau đó, ngài chuyển sang đề cập đến công tác quản trị và sự hòa thuận huynh đệ:“[…] Về phương diện này, chúng ta đã phải tự trách mình rất nhiều. Mỗi nhà chỉ quan tâm đến sự thuận tiện của riêng mình, mà không bận tâm đến những nhu cầu chung của Hội Dòng. Đôi khi, các khoản chi tiêu cá nhân vượt quá mức mà việc tuân giữ đức khó nghèo, vốn đã được mỗi thành viên tuyên khấn, cho phép. Một số anh em còn tỏ ra quá chú trọng đến phẩm chất, số lượng và kiểu dáng y phục. Sự yếu kém của một số Bề trên địa phương đã dẫn đến tình trạng lạm dụng […].” [61]
Tại Tổng Tunghịnăm 1856, Đức cha Mai Thiên Lộc một lần nữa bày tỏ mối quan ngại của mình. Ngài chỉ ra rằng những sai lỗi của một số thành viên bắt nguồn từ “sự suy giảm tinh thần nguyên thủy của Hội Dòng”, biểu hiện qua thái độ chán ghét hy sinh và thiếu thốn. Khi Tổng Quản lý trình bày báo cáo về tình trạng sổ sách kế toán không đầy đủ, Đấng Sáng lập đã nhân cơ hội này “nhắc nhở tất cả các thành viên hiện diện về nghĩa vụ sống phù hợp hơn với tinh thần khó nghèo như được trình bày trong các Luật Dòng thánh của chúng ta, đồng thời tránh mọi khoản chi tiêu không thực sự cần thiết”. [62]Để bảo đảm sự thống nhất về y phục, Tổng Tu nghị cũng yêu cầu Bề trên Tổng quyền quy định những loại y phục thông thường mà mỗi nhà truyền giáo được phép có. [63]Trong thư luân lưu thứ hai, được viết sau Tổng Tu nghị, Đức cha Mai Thiên Lộc khuyến khích các người con của mình trung thành hơn nữa với đời sống tu trì. Ngài nhắc lại nhiều điểm khác nhau trong Luật Dòng, trong đó có những quy định về đức khó nghèo:“Chúng ta có điều gì phải tự trách mình về đức khó nghèo thánh thiện […] không? Luật Dòng nói gì về điều này? ‘Tất cả các vị sáng lập các dòng tu đều coi sự khó nghèo tự nguyện là nền tảng và cơ sở của mọi sự hoàn thiện…’ […] Chỉ chừng ấy cũng đủ để chúng ta đánh giá đúng tầm quan trọng của đức khó nghèo. Vì thế, mọi sự trong Hội Dòng chúng ta đều phải được thực hiện ‘theo cách thức của người nghèo […]’.”Sau khi trích dẫn nhiều điều khoản khác nhau trong Hiến Pháp và Quy Luật, ngài đau lòng nhận thấy một số tu sĩ Hiến Sĩ có dư dật thức ăn và y phục, đến nỗi không còn biết đón nhận những thiếu thốn mà lời khấn của mình đòi hỏi, những thiếu thốn gắn liền với việc bước theo Đức Kitô. [64]
Điều này cho thấy Đấng Sáng lập đã hết sức quan tâm và kiên quyết gìn giữ việc thực hành đức khó nghèo nơi các nhà truyền giáo, bởi ngài xem đây là một yếu tố hết sức quan trọng trong linh đạo tông đồ mà ngài mong muốn các tu sĩ của mình thấm nhuần. Giờ đây, chúng ta sẽ xem xét liệu Hội Dòng có tiếp tục trung thành với đường hướng của ngài hay không.
Đức khó nghèo nơi các tu sĩ Hiến Sĩ từ khi Đấng Sáng lập qua đời đến Công đồng Vaticanô II
Việc đón nhận di sản thiêng liêng của Đấng Sáng lập làm gia sản của mình và tiếp tục thực hiện chương trình loan báo Tin Mừng của ngài thông qua một tập thể những con người tông đồ, sẵn sàng chấp nhận mọi hình thức từ bỏ, quả là điều không dễ dàng. Tuy nhiên, Thiên Chúa đã ban cho Hội Dòng những vị lãnh đạo khôn ngoan và giàu đời sống thiêng liêng, cùng với đông đảo các nhà truyền giáo can trường. Nhờ đó, các ngài đã gìn giữ được đặc sủng Hiến Sĩ với những đòi hỏi triệt để của đặc sủng ấy, đồng thời làm cho đặc sủng ấy ngày càng phát triển phong phú.
Văn kiện nền tảng và căn bản của Hội Dòng là Hiến Pháp và Quy Luật (được tu chính năm 1928 để phù hợp với Bộ Giáo luật mới), vẫn bảo tồn những chỉ dẫn về đức khó nghèo trong Quy Luật của Đấng Sáng lập. Tuy nhiên, có một ngoại lệ liên quan đến các quy định pháp lý về quyền sở hữu tài sản và những hành vi quản lý tài sản ấy. Chỉ nam Truyền giáo (Directory for the Missions), vốn bao gồm một số quy định về đức khó nghèo và việc khổ chế, đã được loại khỏi Hiến Pháp và Quy Luật. Sở dĩ như vậy là vì các Tổng Tu nghị năm 1867 và 1920 đã soạn thảo một bản chỉ nam riêng cho mỗi Tỉnh Dòng hoặc Hạt Đại diện, nhằm phản ánh những điều kiện cụ thể tại địa phương. [65].
Các văn kiện này tiếp nối quan niệm về đức khó nghèo với chiều kích khổ chế đặc thù và những đòi hỏi triệt để gắn liền với lời khấn. Đức khó nghèo theo tinh thần Tin Mừng đòi hỏi một đời sống đơn sơ, khắc khổ và siêu thoát để bước theo Đức Kitô. Lời khấn không cho phép tu sĩ tự ý định đoạt tài sản trần thế theo ý riêng, độc lập với sự chấp thuận của Bề trên hợp pháp.Thái độ này vốn đi ngược lại khuynh hướng tự nhiên của con người là ham muốn tích lũy, giữ lấy của cải và sử dụng chúng theo ý mình. Vì thế, phải thừa nhận rằng việc thực hành đức khó nghèo là điều khó khăn, đòi hỏi những người có trách nhiệm lãnh đạo phải đặc biệt tỉnh thức. Chính vì vậy, khi đọc lại biên bản các Tổng Tu nghị, chúng ta nhận thấy các ngài nhiều lần nhấn mạnh việc tuân giữ điều 40 trong các Luật Dòng năm 1826 và 1853. [66]Điều khoản này đòi hỏi phải tuân giữ cách cẩn trọng các quy định liên quan đến đức khó nghèo, đồng thời yêu cầu áp dụng những biện pháp kỷ luật nghiêm khắc đối với các Bề trên quá dễ dãi, để tình trạng lỏng lẻo trong lãnh vực này không xảy ra. Hiến Pháp năm 1928 diễn đạt nhẹ nhàng hơn:“Các quy định đã được nêu trong những điều khoản trên đây được đặc biệt phó thác cho sự quan tâm và giám sát của các Bề trên, nhất là Bề trên Tổng quyền, để trong một vấn đề hệ trọng như thế, những thay đổi đi ngược lại đức khó nghèo không len lỏi vào giữa chúng ta.” [67]
Tổng Tu nghị năm 1867 đã làm rõ hơn một số vấn đề, sau đó được đưa vào bản văn Hiến Pháp năm 1928:a) Các cha sở và những người phụ trách các công cuộc tông đồ không được giữ tiền riêng; b) Toàn bộ số tiền nhận được từ các ý lễ phải được giao cho quản lý; c) Việc duy trì một quỹ riêng không công khai để chi trả một số khoản, ngay cả khi những khoản chi ấy nhằm đáp ứng nhu cầu của cộng đoàn, cũng bị coi là trái với lời khấn khó nghèo. Việc xin phép duy trì một quỹ như thế cũng không hợp pháp. [68]
Tại Tổng Tu nghị năm 1873, nhiều lời phàn nàn gay gắt đã được đưa ra liên quan đến việc xây dựng và sửa chữa các nhà thờ cũng như nhà ở của Hội Dòng. Những công việc này đôi khi làm xáo trộn nếp sống tu trì và dẫn đến việc vay nợ mà Hội Dòng khó có thể thanh toán trong thời gian ngắn.Các Bề trên, cả thuộc Ban Tổng quyềnlẫn các Tỉnh Dòng, được yêu cầu không cho phép tiến hành xây dựng, trừ khi công trình thực sự cần thiết hoặc mang lại lợi ích lớn. Việc cho phép chỉ được thực hiện sau khi các Bề trên đã xem xét kỹ lưỡng dự án cùng những phương án thay thế. [69]
Từ Tổng Tu nghị năm 1904, lời khuyến cáo ngắn gọn sau đây rất đáng lưu ý: “Tổng Tu nghị nhắc nhở các thành viên duy trì tinh thần khó nghèo, đặc biệt trong việc sử dụng những thứ không thực sự cần thiết và tránh những khoản chi tiêu vô ích.” [70]Trong số những khoản chi tiêu vô ích ấy, các Tổng Tu nghị thường xuyên đề cập đến tiền mua thuốc lá. Mặc dù có những thời kỳ việc hút thuốc bị nghiêm cấm, các trường hợp ngoại lệ vẫn được chấp thuận; về sau, quy định này dần được nới lỏng, đến mức chỉ còn yêu cầu phải có sự cho phép của Bề trên Tỉnh Dòng mới được hút thuốc. [71]Một vấn đề khác liên tục được nêu ra kể từ năm 1920 là việc sử dụng xe hơi. Muốn mua xe, các tu sĩ phải được Bề trên Tỉnh Dòng và Hội đồng của ngài cho phép. Các vị có trách nhiệm bảo đảm rằng chiếc xe không quá đắt tiền và không đi ngược lại nếp sống của người tu sĩ. [72]
Nhìn chung, qua các biên bản của các Tổng Tu nghị, chúng ta có thể rút ra hai nhận định: a) một số nhà truyền giáo đã thực hành đức khó nghèo cách thường xuyên và nghiêm ngặt theo đúng tinh thần của Luật Dòng; b) nhìn chung, những lạm dụng trong lãnh vực này không nghiêm trọng và cũng không phổ biến rộng rãi.Tuy nhiên, chúng ta không thể không nhắc đến những giao dịch tài chính hết sức thiếu thận trọng, đáng tiếc là do các thành viên Ban Tổng quyềnthực hiện trong giai đoạn 1902–1905. Vì nhận thấy nguồn tài chính của Ban Tổng quyềnkhông đủ đáp ứng các nhu cầu, “các ngài đã tìm cách […] gia tăng nguồn thu nhập. Với ý định ấy, nhưng lại thiếu kinh nghiệm một cách đáng tiếc, các ngài đã lao vào những hoạt động đầu cơ quy mô lớn. Theo nhận định của mình, sáng kiến này sẽ mang lại sự thịnh vượng về tài chính; nhưng trên thực tế, nó lại dẫn đến sự phá sản.” [73]
Chúng ta không thể quên rằng đức khó nghèo, trong thực tế cụ thể nhất và dưới những hình thức triệt để nhất, đã là hoàn cảnh sống thường ngày của hàng trăm tu sĩ Hiến Sĩ, hiện diện giữa mọi miền khí hậu: từ những vùng băng giá ở địa cực, dưới cái nắng thiêu đốt của miền nhiệt đới, cho đến vùng Chaco của Paraguay, nơi được ví như địa ngục xanh. Các nhà truyền giáo ấy không chỉ giữ cho ngọn lửa đặc sủng Hiến Sĩ luôn cháy sáng trong lòng Giáo hội, mà còn trở thành nguồn cảm hứng cho tất cả anh em trong toàn Hội Dòng qua chính chứng tá đời sống của mình.
Tôi xin trích dẫn lời chứng của hai vị tu sĩ như thế. Năm 1898, Đức cha Émile Grouard đã viết về miền truyền giáo Athabaska–Mackenzie của ngài như sau:“Các cha cũng như các thầy đều phải đảm nhận đủ mọi loại công việc. Giáo dục người bản địa và học ngôn ngữ để thực hiện công việc ấy; biên soạn sách vở, rồi in ấn và đóng sách; giải tội; thăm viếng bệnh nhân, đôi khi phải đi những quãng đường khá xa, bất kể mùa đông hay mùa hè; dạy học ở những nơi có thể – đó là những công việc mà, cũng như ở hầu hết mọi nơi trong miền này, các nhà truyền giáo miền Bắc phải đảm trách.Tuy nhiên, các ngài còn buộc phải làm nhiều công việc khác để kiếm sống qua ngày hoặc tìm cách che chở mình khỏi giá lạnh. Vì thế, các ngài phụ giúp anh em tu sĩ trong việc đánh cá, xây dựng, đốn củi, làm vườn, v.v. […].Thực tế là những mối bận tâm về sự sống còn, cuộc vật lộn để tồn tại, chiếm một phần rất đáng kể trong hoạt động của chúng tôi. Cần phải nói rõ rằng vấn đề không chỉ là bảo đảm cho mình một mức sống nào đó hoặc một lối sống ít nhiều tiện nghi – điều ấy thậm chí chẳng đáng để nhắc đến – mà thực sự là làm sao để không chết vì giá rét và đói khát. Vì thế, bất cứ ai muốn sống tại các miền truyền giáo của chúng tôi đều không thể cho rằng mình được miễn lao động chân tay.” [74]
Chúng ta hãy chuyển sang miền truyền giáo Pilcomayo ở Nam Mỹ. Năm 1929, thầy Joseph Isenberg đã ghi lại trong nhật ký:“Công việc xây dựng vẫn đang được tiến hành; chúng tôi cũng làm một số công việc canh tác. Chúng tôi đang chuẩn bị đất để làm một khu vườn rau rộng lớn, vì hiện nay phần lớn lương thực của chúng tôi đến từ việc săn bắn và đánh cá. Trong thời gian rảnh rỗi và vào các ngày Chúa nhật, chúng tôi buộc phải tự giặt giũ và vá víu quần áo. Tuy nhiên, bất chấp mọi khó khăn, chúng tôi vẫn giữ vững tinh thần lạc quan.” [75]
Lao động, thiếu thốn, nghèo khó và tinh thần lạc quan đó là những yếu tố luôn gắn liền với hành trang thiêng liêng của người truyền giáo. Nhiều tu sĩ Hiến Sĩ có thể làm chứng cho thực tế này.
Đức khó nghèo Hiến Sĩ dưới ánh sáng Công đồng Vaticanô II
Công đồng Vaticanô II là dấu chỉ và là biểu hiện của một cuộc canh tân sâu xa do Chúa Thánh Thần khơi dậy trong lòng Giáo hội, đặc biệt trong những năm sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Đồng thời, chính Công đồng này đã xác nhận, cho phép và định hướng tiến trình canh tân diễn ra trong mọi lãnh vực của đời sống Kitô giáo, từ tín lý đến thực hành mục vụ, từ linh đạo giáo dân đến linh đạo đời tu. Đức khó nghèo theo tinh thần Tin Mừng là một trong những lãnh vực được hưởng những thành quả từ tác động của cuộc canh tân ấy.
Những yếu tố văn hóa – xã hội mới đã giúp khám phá những chiều kích mới của sự nghèo khó trong thế giới chúng ta, đồng thời khơi dậy một nhận thức sâu sắc hơn về người nghèo, những người thường là nạn nhân của các cơ cấu bất công và áp bức. Đồng thời, một nhãn quan mới về Giáo hội như một cộng đoàn mở ra với thế giới, dấn thân vào lịch sử của các dân tộc và quốc gia, cùng với việc chú giải Kinh Thánh sâu sắc và sáng suốt hơn, đã góp phần làm phong phú đáng kể linh đạo về đức khó nghèo như một lời khuyên Phúc Âm.
Trong Hiến chế Ánh sáng muôn dân (Lumen Gentium, số 44–46) và Sắc lệnh Đức ái trọn hảo (Perfectae Caritatis, số 1, 2, 5 và 13), Công đồng Vaticanô II trình bày các lời khuyên Phúc Âm như một biểu hiện nổi bật của ý chí bước theo Đức Kitô. Việc bước theo Đức Kitô bắt nguồn từ Bí tích Rửa tội, đồng thời là bổn phận và chuẩn mực cho toàn thể đời sống Kitô hữu, được thể hiện cách cụ thể và đặc biệt nơi các hội dòng sống đời thánh hiến.Đối với toàn thể các tín hữu, đời sống ấy phải trở thành những dấu chỉ rạng ngời về “sự kết hợp tuyệt diệu như hôn ước do Thiên Chúa thiết lập” [76] trong Giáo hội, đồng thời biểu lộ sự hiện diện của những thực tại Nước Thiên Chúa thuộc về trời cao ngay giữa thế giới này. [77]
Mối tương quan giữa ý hướng bước theo Đức Kitô và tư cách là dấu chỉ của Nước Thiên Chúa, vốn đã hiện diện nhưng vẫn đang chờ ngày viên mãn, đã đem lại một cái nhìn mới về đức khó nghèo theo tinh thần Tin Mừng. Chiều kích khổ chế cá nhân, vốn được toàn bộ truyền thống linh đạo nhấn mạnh, không bị loại bỏ; các đòi hỏi pháp lý liên quan đến sự lệ thuộc vào Bề trên trong việc sử dụng của cải trần thế cũng vẫn được duy trì. Tuy nhiên, điều được nhấn mạnh hơn cả là động lực thần bí của việc chia sẻ sự tự hủy của Đức Kitô, cùng với đòi hỏi phải sống ngay chính và chân thực, sao cho đời sống ấy trở thành một dấu chỉ rõ ràng, dễ nhận biết đối với con người thời đại chúng ta, đặc biệt là những người nghèo.Phần nói về đức khó nghèo trong Sắc lệnh Đức ái trọn hảo (Perfectae Caritatis) mở đầu bằng lời khuyến nghị đầy sức thuyết phục sau đây:“Đức khó nghèo tự nguyện, theo bước chân Đức Kitô, là dấu chỉ của Người được đặc biệt quý trọng, nhất là trong thời đại ngày nay. Các tu sĩ phải chuyên cần vun trồng đức khó nghèo ấy và, nếu cần, thể hiện bằng những hình thức mới.” [78]Chứng tá Tin Mừng của đời sống thánh hiến không thể chỉ giới hạn ở đức khó nghèo tinh thần hoặc pháp lý. Đức khó nghèo ấy phải được thể hiện bằng một đời sống nghèo khó thực sự, cụ thể, đồng thời biểu lộ tình liên đới chân thành với những người nghèo trong thế giới hôm nay. Chỉ bằng cách đó, chúng ta mới thực sự trở thành những người “chia sẻ sự nghèo khó của Đức Kitô”.Chính vì thế, “các tu sĩ phải nghèo khó trong thực tế cũng như trong tinh thần”; họ phải tuân theo “quy luật chung về lao động”, chia sẻ của cải của mình “để nâng đỡ người nghèo”; đồng thời, họ phải tránh mọi biểu hiện xa hoa, giàu có quá mức và tích lũy tài sản, vì những điều ấy sẽ trở thành một chứng tá phản chứng rõ ràng. [79]
Linh đạo Hiến Sĩ đã thể hiện sự gắn bó hết sức rõ ràng với định hướng canh tân mới mẻ này của Công đồng. Sau đó, Đức Giáo hoàng Phaolô VI đã trình bày vấn đề này một cách sâu sắc và tuyệt vời trong Tông huấn Chứng tá Tin Mừng (Evangelica Testificatio), mở đầu bằng lời mời gọi các tu sĩ hãy để cho tiếng kêu thống thiết của người nghèo chất vấn và thôi thúc mình. [80]Hiến Pháp và Quy Luật năm 1966 là một biểu hiện rõ nét của định hướng ấy. Văn kiện trình bày đức khó nghèo như “một phương thế thích hợp để kết hợp với Đức Kitô và với người nghèo” [81]; như một phương thế chống lại tinh thần tham lam, vốn là nguồn gốc của biết bao điều xấu xa trong Giáo hội và cản trở công cuộc loan báo Tin Mừng [82]; đồng thời, như một hình thức chia sẻ huynh đệ, qua đó đời sống cộng đoàn được biểu lộ và nuôi dưỡng. [83]Lý tưởng này đòi hỏi chúng ta phải thực hiện “chứng tá chung của toàn thể cộng đoàn về đức khó nghèo theo tinh thần Tin Mừng”. [84] Lý tưởng ấy cũng đòi hỏi mỗi người phải tuân theo “quy luật chung về lao động, mỗi người tùy phần mình đóng góp vào việc duy trì và sứ vụ tông đồ của cộng đoàn” [85], đồng thời sẵn sàng “chia sẻ hoàn cảnh sống của những người không phải lúc nào cũng có được những tiện nghi và điều kiện thuận lợi như mong muốn”. [86]Tất cả những điều đó thôi thúc chúng ta chọn “một lối sống gần gũi với lối sống của những người dân bình thường có mức sống khiêm tốn, giữa những người mà chúng ta đang sống cùng” [87], và luôn ghi nhớ rằng, khi sử dụng của cải vật chất, những của cải ấy “có thể nói, là gia sản của người nghèo”. [88]
Định hướng mới này cùng với những quy định trên hoàn toàn phù hợp với tinh thần của Đấng Sáng lập và truyền thống của Hội Dòng chúng ta, bởi chúng cụ thể hóa và phát huy những sức mạnh nền tảng của đặc sủng Mai Thiên Lộc.Chẳng hạn, tinh thần chia sẻ, một giá trị đang được các thế hệ trẻ đặc biệt đón nhận, vốn đã hiện diện ngay trong Luật Dòng đầu tiên. Luật Dòng quy định: “Hội Dòng phải chi trả mọi phí tổn cho việc giảng các cuộc đại phúc tại các giáo xứ; tuyệt đối không được để các cộng đoàn hoặc cá nhân phải gánh chịu những khoản chi phí ấy.” [89]Ngày nay, chứng tá chung mà tất cả các tu sĩ được mời gọi thực hiện cũng đã được hiểu theo một nghĩa nào đó như là sự khước từ và lời thách thức đối với lòng tham lam, nguồn gốc của những tai họa trong nhân loại và trong Giáo hội, đồng thời là ước muốn khắc phục những thiệt hại do thói xấu này gây ra. [90]Điểm thực sự mới ở đây là chỉ thị yêu cầu các tu sĩ tuân theo quy luật chung về lao động, mặc dù trên thực tế, nhiều nhà truyền giáo đã dấn thân trọn vẹn vào công việc này, buộc phải lao động chân tay vất vả để tự nuôi sống bản thân và duy trì hoạt động của miền truyền giáo. Một số tu sĩ Hiến Sĩ người châu Âu đã noi gương các “linh mục thợ”, nhằm thiết lập mối liên hệ gần gũi hơn với thế giới của những người lao động.Một điểm mới khác là sự quan tâm đến công bằng xã hội được nêu bật trong Quy Luật 58:“Dưới sự hướng dẫn của các Bề trên, các thành viên sẽ tham gia vào những tổ chức xã hội, và thậm chí nỗ lực cải thiện hoàn cảnh của đông đảo những người có điều kiện sống thiệt thòi bằng cách dấn thân phục vụ công bằng xã hội.” [91]
Về vấn đề này, Tông huấn Evangelica Testificatio đưa ra những giải thích quý giá: tiếng kêu của người nghèo buộc các tu sĩ phải nâng cao nhận thức về thực trạng nghèo đói cũng như những đòi hỏi của công lý xã hội theo Tin Mừng và giáo huấn Hội Thánh. Tiếng kêu ấy thúc đẩy một số người đến sống trong hoàn cảnh nghèo khó cùng với người nghèo, chia sẻ những lo âu nặng nề của họ; đồng thời mời gọi một số Hội Dòng xem xét lại cách phê bình và tổ chức lại các hoạt động để tập trung hơn vào nhu cầu của người nghèo. [92]
Khát vọng công lý, được cảm nhận mạnh mẽ tại Mỹ Latinh và các quốc gia đang phát triển, đã vang vọng sâu xa trong tâm hồn nhiều tu sĩ Hiến Sĩ cũng như trong các cơ quan quyết định của Hội Dòng. Điều này được thể hiện trong các văn kiện Tổng Tu nghị năm 1972, đặc biệt là văn kiện Viễn tượng truyền giáo.Dưới ánh sáng Tin Mừng và trước khát vọng giải phóng mãnh liệt của thế giới, các tu sĩ Hiến Sĩ tại Mỹ Latinh tự hỏi làm thế nào để có thể đóng góp tốt nhất vào công cuộc giải phóng con người cách chân thực và toàn diện trong Đức Kitô. [93] Sứ vụ đôi khi đòi hỏi một sự hiện diện rõ ràng hơn trước những bất công và những khát vọng kinh tế – xã hội; đồng thời, cũng đòi hỏi phải công khai thể hiện tình liên đới với người nghèo. [94]Tổng Tu nghị xác định ba hướng hành động cụ thể: a) Ưu tiên dành cho người nghèo; b) Liên đới với con người trong thời đại chúng ta; c) Phát huy sự sáng tạo.Hướng hành động thứ nhất đề cập đến nhiều hình thức nghèo khó khác nhau: mù chữ, nạn nhân của rượu chè hoặc ma túy, những tầng lớp bị gạt ra bên lề xã hội… Đồng thời, văn kiện không quên nhấn mạnh rằng “hình thức nghèo khó tồi tệ nhất […] là không biết Đức Kitô”. Văn kiện mời gọi các tu sĩ cộng tác vào công cuộc phát triển toàn diện, nhằm biến đổi những cơ cấu áp bức và tham gia “phong trào hướng tới sự giải phóng đích thực”. [95]Hướng hành động thứ hai đòi hỏi phải “trở thành một phần của thế giới người nghèo: lắng nghe tiếng nói của họ, cố gắng hiểu họ, để mình được họ làm cho phong phú hơn, và không chỉ làm việc cho họ mà còn làm việc với họ”. [96] Tổng Tu nghị nhìn nhận và khích lệ những tu sĩ Hiến Sĩ được ban đặc sủng đặc biệt để hoàn toàn đồng hóa mình với người nghèo bằng cách chia sẻ những điều kiện xã hội, văn hóa và kinh tế của họ. [97]Hướng hành động thứ ba kêu gọi nâng đỡ và khích lệ những anh em cảm thấy được mời gọi tham gia các cuộc đấu tranh xã hội và công khai lên tiếng bênh vực những người bị áp bức. Cuối cùng, văn kiện nhắc nhở không được dập tắt tiếng nói ngôn sứ của họ, dù điều đó đòi hỏi phải có sự phân định thích hợp. [98]
Hiến Pháp và Quy Luậtđược soạn thảo lại năm 1980 và phê chuẩn năm 1982 tiếp nhận những nội dung cốt yếu của truyền thống linh đạo Hiến Sĩ, đồng thời nhắc đến những tiếng gọi từ thế giới đương đại, hay chính xác hơn, “tiếng gọi của Đức Giêsu Kitô được nghe thấy trong Hội Thánh qua nhu cầu cứu độ của con người” (Hiến Pháp 1).Ngay trong chương đầu về sứ vụ, Hiến Pháp 9 nhắc nhở các tu sĩ phải “làm chứng cho sự thánh thiện và công chính của Thiên Chúa”, bằng việc loan báo “sự hiện diện giải phóng của Đức Giêsu Kitô”, lắng nghe và làm cho “tiếng kêu của những người không có tiếng nói” được vang lên. Về hoạt động cho công lý, Quy Luật9a giải thích rõ hơn rằng, khi đáp lại lời mời gọi của Thánh Thần, một số tu sĩ Hiến Sĩ đồng hóa mình với người nghèo, chia sẻ đời sống và dấn thân cho công lý; đồng thời, tất cả được mời gọi cộng tác “bằng mọi phương tiện phù hợp với Tin Mừng, để thay đổi tất cả những gì gây ra áp bức và nghèo đói”, qua đó góp phần xây dựng một xã hội đặt nền tảng trên phẩm giá con người.
Khi trình bày lời khuyên Phúc Âm về đức khó nghèo, Hiến pháp 19 đặt nhân đức này trong bối cảnh bước theo Đức Kitô, Đấng mời gọi chúng ta từ bỏ mọi sự để đi theo Người và chờ đợi lời đáp trả tự do của chúng ta: “Đáp lại lời mời gọi của Người, chúng ta chọn sống khó nghèo theo Tin Mừng.”Hiến pháp 20 giải thích động lực của sự lựa chọn ấy: “Sự lựa chọn khó nghèo thúc đẩy chúng ta bước vào sự hiệp thông sâu xa hơn với Đức Giêsu và với người nghèo.” Giá trị nền tảng này đem lại cho đức khó nghèo của chúng ta ý nghĩa thần bí sâu xa cũng như ý nghĩa tông đồ. Từ đó phát sinh những giá trị khác: chứng tá chống lại việc lạm dụng quyền lực và của cải, cùng với lời công bố một thế giới mới được giải thoát khỏi ích kỷ.Đồng thời, nơi nhà truyền giáo hình thành thái độ khiêm tốn, biết lắng nghe và học hỏi, để chính mình được người nghèo loan báo Tin Mừng. [99] Tiếp đến là sự sẵn sàng chia sẻ huynh đệ theo gương cộng đoàn Kitô hữu đầu tiên và nỗ lực xây dựng một nếp sống đơn sơ, quảng đại, công khai chống lại sức quyến rũ của xã hội tiêu thụ, đồng thời vui vẻ chấp nhận việc thiếu một số tiện nghi. [100]
Sự lựa chọn sống khó nghèo theo Tin Mừng không phải là mục tiêu tuyệt đối tự thân. Chúng ta đón nhận đức khó nghèo như một phương thế để sống tình yêu trọn vẹn hơn và diễn tả tình yêu ấy phù hợp hơn với những đòi hỏi của đặc sủng tông đồ. Sứ vụ đòi hỏi chúng ta sử dụng và quản lý tài sản “như gia sản của người nghèo”: tài sản ấy phát xuất từ người nghèo và được dành cho người nghèo. [101]Cộng đoàn cũng được mời gọi chia sẻ những nguồn lực khiêm tốn của mình với người nghèo: “Tuy nhiên, cộng đoàn, khi đặt niềm tin vào Chúa Quan Phòng, sẽ không ngần ngại sử dụng những gì mình có, kể cả những thứ cần thiết cho đời sống, để giúp đỡ những người nghèo của Thiên Chúa.” [102]
Dĩ nhiên, thường xuyên nảy sinh vấn đề làm thế nào dung hòa những đòi hỏi của một hoạt động tông đồ hữu hiệu, vốn cần đến các phương tiện vật chất thích hợp, với đòi hỏi của chứng tá Tin Mừng, trong đó sự từ bỏ bản thân và sự khôn ngoan của thập giá thể hiện sức mạnh chiến thắng.Cha Fernand Jetté từng đặt ra những câu hỏi cụ thể: “Những khó khăn thường phát sinh từ môi trường chúng ta sống và những đòi hỏi của sứ vụ. Ngày nay, có thể làm nhà truyền giáo mà không cần xe hơi không? Có thể làm giáo sư hoặc thủ quỹ mà không cần thiết bị máy tính không? Có thể gần gũi với người dân mà không xem một số chương trình truyền hình không?” [103]Sự hiện diện của những vấn đề như thế đòi hỏi chúng ta luôn tỉnh thức và thường xuyên phân định, cả ở cấp độ cá nhân lẫn cộng đoàn, để không bị quyến rũ bởi xã hội tiêu thụ. Đồng thời, chúng ta phải cởi mở đón nhận những khả năng và đặc sủng riêng của mỗi người, cũng như chấp nhận một mức độ đa dạng trong các lựa chọn, nhờ đó có thể nâng đỡ lẫn nhau và bổ sung cho nhau bằng những ân huệ khác biệt. [104]
Hiến Pháp 22 và 23 xác định phạm vi của lời khấn khó nghèo. Lời khấn buộc tu sĩ “sống đời khó nghèo tự nguyện”, từ bỏ quyền tự mình sử dụng và tự do định đoạt mọi vật có giá trị vật chất cũng như tài sản có được nhờ lao động cá nhân hoặc dưới bất cứ danh nghĩa nào khác, ngoại trừ tài sản được thừa kế.Tu sĩ Hiến Sĩ vẫn giữ những tài sản thừa kế đã có trước khi gia nhập Hội Dòng và những tài sản được thừa kế về sau. Tuy nhiên, trước khi khấn lần đầu, tu sĩ phải từ bỏ quyền quản lý tài sản của mình và giao quyền sử dụng cùng quyền hưởng hoa lợi từ tài sản ấy, để được tự do khỏi những lo lắng liên quan đến của cải vật chất. [105] Trước khi khấn trọn đời, qua một di chúc, tu sĩ phải chuyển giao tài sản thừa kế hiện có và những tài sản có thể được thừa kế trong tương lai. Ngoài ra, Hiến pháp 23 quy định rằng “với sự cho phép của Bề trên cấp cao cùng với hội đồng của ngài, một tu sĩ Hiến Sĩ đã khấn trọn đời có thể từ bỏ tài sản hiện tại và tương lai của mình”.
Khi được sống với tất cả những hệ quả của lời khấn, đức khó nghèo đòi hỏi một sự từ bỏ sâu xa. Cha Jetté giải thích:“Điều này có nghĩa là tu sĩ Hiến Sĩ, với tư cách một con người, thực sự nghèo khó, thậm chí rất nghèo khó: ngài không có gì hoặc hầu như không có gì, và không thể sử dụng bất cứ thứ gì ngoài sự vâng phục và trong sự vâng phục. Xét theo phương diện nhân loại, tình trạng của ngài là hoàn toàn lệ thuộc, như thân phận của một người ‘nhỏ bé’. Đây là sự trao hiến triệt để chính mình cho Thiên Chúa. Ngài thực hiện điều ấy cách tự do, vì yêu mến Đức Kitô và anh chị em mình nơi trần thế. Sự chân thành và chiều sâu của việc trao hiến sẽ được thể hiện qua nếp sống đơn sơ và tinh thần từ bỏ trong đời sống hằng ngày.” [106]
Tại Tổng Tu nghị năm 1986, lời kêu gọi đầu tiên được các tu sĩ Hiến Sĩ nhận định là cấp bách để trở thành “những nhà truyền giáo trong thế giới hôm nay” chính là lời mời gọi sống đức khó nghèo gắn liền với công lý. Phần đầu của văn kiện Tổng Tu nghị mang tựa đề Sứ vụ, khó nghèo và công lý. Văn kiện mô tả thực trạng nghèo đói đương đại và những hình thức mới của nó, đặc biệt là “một hình thức nghèo khó nghiêm trọng: không biết Tin Mừng và mất đi mọi niềm hy vọng tôn giáo”.Văn kiện cho thấy trong nhiều trường hợp, nghèo đói là hậu quả của những cơ cấu bất công được tạo ra và duy trì bởi lòng ích kỷ, tham lam. Trước thực trạng ấy, các tu sĩ Hiến Sĩ, những người được sai đi loan báo Tin Mừng cho người nghèo, nhận ra thách đố mà hoàn cảnh đặt ra. Họ quyết tâm đến gần người nghèo, chia sẻ cuộc sống với họ, để mình cũng được họ loan báo Tin Mừng; đồng thời nâng đỡ cuộc đấu tranh cho công lý và liên đới với những hoạt động của họ.Từ lời kêu gọi này, văn kiện thúc giục các tu sĩ thay đổi nếp sống, tìm cách trở thành một phần của môi trường người nghèo, chia sẻ tài sản với họ và nâng đỡ những sáng kiến như Mạng lưới Công lý và Hòa bình cũng như cuộc đối thoại Bắc – Nam. [107] Đó là một chương trình rộng lớn, đòi hỏi nhiều nỗ lực, nhưng cũng chính là chương trình mà đặc sủng Hiến Sĩ thúc đẩy chúng ta thực hiện.
Những chỉ dẫn của Hội Thánh và Hội Dòng, xuất phát từ nhận thức xã hội mới về thế giới đương đại, đặc biệt là thế giới người trẻ, đã mở đường cho một nếp sống Hiến Sĩ mới. Trong viễn tượng này, đức khó nghèo không còn được trình bày đơn thuần như sự siêu thoát khổ chế, càng không chỉ là tình trạng lệ thuộc theo quy định pháp lý. Đức khó nghèo được thể hiện như thái độ đơn sơ và hiếu khách, như sự gắn bó cụ thể và đầy tình cảm với những người khiêm hạ, cũng như sự hiệp thông đích thực với người nghèo. Chúng ta không chỉ chia sẻ nguồn lực vật chất, mà còn chia sẻ kiến thức, tình bạn và đức tin. Đó là lý tưởng mà các cộng đoàn tu trì tại Mỹ Latinh đang theo đuổi khi hiện diện giữa đời sống thực tế của người dân bình thường; trong số đó có một số cộng đoàn Hiến Sĩ.
Hội nghị Puebla đã chỉ ra một xu hướng nổi bật của đời sống tu trì tại Mỹ Latinh: “sự lựa chọn ưu tiên dành cho người nghèo”. Lựa chọn này dẫn đến việc xem xét lại cách phê bình và tổ chức lại những hoạt động truyền thống, nhằm đáp ứng hữu hiệu hơn các đòi hỏi của việc loan báo Tin Mừng. Nhờ đó, mối tương quan với người nghèo được làm sáng tỏ: không chỉ đòi hỏi sự siêu thoát nội tâm và nếp sống cộng đoàn khắc khổ, mà còn đòi hỏi tình liên đới thực sự với người nghèo; trong một số trường hợp, còn có nghĩa là sống cùng họ ngay trong nhà của họ. [108]Thật vậy, một số tu sĩ đã đến sinh sống tại những khu ngoại ô nghèo nàn. Cha Jetté vui mừng nhìn nhận tinh thần và định hướng ấy nơi các tu sĩ Hiến Sĩ ở Nam Mỹ:“Sự lựa chọn này đã hiện diện giữa anh em và là một chứng tá cho tất cả các tu sĩ Hiến Sĩ. Anh em đi đến mọi nơi có người nghèo và làm việc vì họ cũng như với họ. ‘Những người anh em của anh em, những người anh em thân yêu, những người anh em đáng quý’, như Đấng Sáng lập từng nói, chính là người bản địa, những nông dân, thợ mỏ, những người lao động nghèo sống trong các khu ổ chuột, những người Hmong tị nạn tại Guyane thuộc Pháp… Anh em sống với họ, trở thành sự hiện diện của Đức Kitô giữa họ; người ta thường nói anh em là tiếng nói của họ, ‘tiếng nói của những người không có tiếng nói’. Với những giới hạn, đau khổ và khó khăn của mình, anh em giúp họ trong nỗ lực đạt tới sự giải phóng trọn vẹn.” [109]Các nhà đào tạo đặt tại những khu phố nghèo, mở cửa đón tiếp người dân và sống đơn sơ, là biểu hiện của sự lựa chọn ưu tiên dành cho người nghèo và đời sống khó nghèo. Tiếp xúc với người nghèo giúp chúng ta khám phá giá trị của đức khó nghèo theo Tin Mừng và niềm hạnh phúc ẩn chứa trong đó.
Tôi tin rằng thái độ này cũng hiện diện trong một số lượng đáng kể các cộng đoàn Hiến Sĩ tại những nước đang phát triển. Vào cuối Tổng Tu nghị năm 1980, cha Jetté nhận định:“Các tu sĩ Hiến Sĩ ngày nay nghe được tiếng kêu của người nghèo trong thời đại chúng ta, của những người ở xa, của những người bị bỏ rơi nhất, và họ muốn đáp lại tiếng kêu ấy. Như chúng ta đã cảm nghiệm trong suốt Tổng Tu nghị tại mọi miền trên thế giới, họ mở rộng đôi mắt trước những nhu cầu của con người. Lòng quảng đại không hề thiếu.” [110]
Tổng hợp: Đức khó nghèo trong linh đạo Hiến Sĩ
Trong toàn bộ truyền thống linh đạo Kitô giáo, đức khó nghèo theo Tin Mừng gắn liền với sự từ bỏ bản thân, nếp sống khắc khổ, tiết độ, đền tội, khiêm nhường và hiền lành. Cùng với những nhân đức ấy, đức khó nghèo là điều kiện thiết yếu để bước theo Đức Kitô và xây dựng Nước Người. Vai trò đặc thù của đức khó nghèo là giải phóng tâm hồn, giúp con người vượt thắng lòng ham muốn chiếm hữu vốn cản trở sự hiệp thông với Thiên Chúa và anh chị em mình. Thánh Inhaxiô Loyola diễn tả điều này cách sâu sắc trong bài suy niệm về hai lá cờ. Kẻ thù thúc đẩy con người tìm kiếm của cải vật chất, từ đó dẫn họ đến sự kiêu ngạo trong lòng và những thói xấu khác. Trái lại, Đức Giêsu mời gọi những người bạn của Người tìm kiếm sự nghèo khó trong tinh thần, nhờ đó họ tiến tới khiêm nhường và các nhân đức khác. [111] Khi tháo gỡ những ràng buộc của lòng người với của cải vật chất, đức khó nghèo làm cho tâm hồn dễ mở ra hơn trước những đòi hỏi của tình yêu Kitô giáo.
Trong linh đạo đời tu, đức khó nghèo liên kết chặt chẽ và không thể tách rời khỏi đức khiết tịnh và đức vâng phục. Ba lời khuyên Phúc Âm hòa quyện với nhau, diễn tả một đời sống tận hiến cho Đấng Tuyệt Đối, một tình yêu không chia sẻ dành cho Đức Kitô và sự hiện diện sống động của Nước Người giữa trần gian. Đời sống được định hình bởi ba lời khuyên này trở thành chứng tá đặc biệt cho thực tại sống động của các mối phúc và cho quyền năng biến đổi của Đức Kitô trong tâm hồn nhân loại.
Linh đạo Hiến Sĩ bao hàm tất cả những yếu tố ấy, đồng thời có chiều kích tông đồ và truyền giáo đặc thù. Cùng với đức khiết tịnh và đức vâng phục, đức khó nghèo diễn tả sự sẵn sàng trọn vẹn để phục vụ Nước Thiên Chúa. Chúng ta sống nghèo khó để hoàn toàn dấn thân loan báo Tin Mừng cho người nghèo, trở thành bạn đồng hành và cộng tác viên của Đức Kitô Cứu Thế, cùng làm việc với Người và như Người, “chỉ tìm kiếm vinh quang Thiên Chúa, lợi ích của Hội Thánh và sự phát triển cũng như phần rỗi các linh hồn”. [112]
Để đức khó nghèo Hiến Sĩ đạt được ý nghĩa đích thực, chúng ta phải tránh một cái nhìn phiến diện và quá hạn hẹp, bởi cách nhìn ấy có thể làm nghèo đi ý nghĩa của đức khó nghèo theo Tin Mừng và gây ra những xung đột, căng thẳng trong thực hành.
1. Đức khó nghèo phải thể hiện rõ nguồn gốc thần học. Đó phải là “đức khó nghèo vì Nước Thiên Chúa”, giúp chúng ta đến gần Thiên Chúa và hiệp thông với Người. Cụ thể, điều này có nghĩa là:
a) Đức khó nghèo phát xuất từ cái nhìn đức tin: Thiên Chúa là điều cần thiết duy nhất, là kho tàng duy nhất của tâm hồn. Thánh Phanxicô Assisi đã thốt lên: “Lạy Chúa là Thiên Chúa của con, là tất cả của con.” Thánh Têrêsa Giêsu cũng nói: “Ai có Thiên Chúa thì không thiếu gì; chỉ một mình Thiên Chúa là đủ.”
b) Đức khó nghèo được nâng đỡ bởi lòng tín thác của người con: Chúng ta tin tưởng vào Thiên Chúa, Đấng hoàn toàn tốt lành, chăm lo cho mọi thụ tạo và lắng nghe tiếng kêu của người nghèo dâng lên Người. Đó là thái độ của những “người nghèo của Đức Chúa”, những người tìm nương náu nơi Người, đến với Người trong lòng tin tưởng và khiêm tốn đón nhận thánh ý Người với tình yêu của những người con nhận ra ý muốn của Cha mình. Quy Luật của Đấng Sáng lập quy định: “Không bao giờ được phép đi xin bố thí; phải trông cậy vào sự trợ giúp của Chúa Quan Phòng.” [113] Đồng thời, Quy Luật cũng nhấn mạnh: “Tuy nhiên, cộng đoàn, khi đặt niềm tin vào Chúa Quan Phòng, sẽ không ngần ngại sử dụng những gì mình có, kể cả những thứ cần thiết cho đời sống, để giúp đỡ những người nghèo của Thiên Chúa.” [114]
c) Đức khó nghèo được thúc đẩy bởi tình yêu Thiên Chúa và tình yêu anh chị em: Vì yêu mến Thiên Chúa, chúng ta từ bỏ mọi sự; vì yêu mến anh chị em, chúng ta muốn hiến trọn cuộc đời để phục vụ họ. Nếu không được thúc đẩy bởi tình yêu ấy, đức khó nghèo sẽ không còn là một nhân đức Kitô giáo hay một thái độ Tin Mừng. Nó sẽ thu hẹp thành việc tuân giữ những quy định khô khan, vô ích, hoặc chỉ còn là một vấn đề kinh tế – xã hội với những hệ quả nhân đạo không rõ ràng.
Nguồn cảm hứng thần học của đức khó nghèo dẫn đến một thái độ chiêm niệm, giúp chúng ta thực sự sống theo những ân huệ của Chúa Thánh Thần, đặc biệt là ơn đạo đức. Chúa Thánh Thần ban cho con người kinh nghiệm thân tình và tràn đầy niềm vui về tư cách làm con Thiên Chúa cũng như về tình huynh đệ giữa mọi người. Kinh nghiệm ấy đã được thể hiện nơi thánh Phanxicô Assisi, thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu và thánh Charles de Foucauld. Nguồn cảm hứng này còn giúp việc thực hành đức khó nghèo vượt qua những căng thẳng có thể xuất hiện giữa quy định pháp lý và đòi hỏi Tin Mừng, giữa khổ chế cá nhân và sự chia sẻ cộng đoàn, giữa việc sử dụng những phương tiện hữu hiệu cho sứ vụ và chứng tá từ bỏ theo Kitô giáo, cũng như giữa việc loan báo Tin Mừng và cổ võ công lý xã hội.
2. Đức khó nghèo phải mang tính quy hướng về Đức Kitô. Đức khó nghèo phải đưa chúng ta vào mầu nhiệm tự hủy (kenosis) của Đức Kitô, Đấng đã trở nên nghèo khó để làm cho chúng ta nên giàu có và cứu độ chúng ta nhờ sự tự hiến triệt để trên thập giá (x. 2 Cr 8,9; Pl 2,7). Ơn gọi Hiến Sĩ mời gọi chúng ta “từ bỏ mọi sự để trở thành môn đệ của Đức Giêsu Kitô” (Hiến pháp 2). Bước theo Đức Kitô đòi hỏi phải hiểu biết và cảm nghiệm sâu xa về Thầy, đồng hình đồng dạng với Người và để Người sống trong chúng ta, nhờ đó chúng ta có thể cộng tác vào công trình cứu độ của Người. Đây là nguyên tắc nền tảng của đời sống chúng ta: được thúc đẩy bởi tình yêu, chúng ta bước theo Đức Giêsu cách cụ thể để Người tiếp tục sứ mạng của mình qua chúng ta. Trong nỗ lực khổ chế để noi gương Người, chúng ta phải từ bỏ thái độ chiếm hữu ích kỷ và tự mãn. Đồng thời, chúng ta phải tìm kiếm sự hiệp thông cá vị với Đức Kitô và mở lòng yêu mến trước hoạt động của Thánh Thần, để bước vào mầu nhiệm nghèo khó và sự tự hủy cứu độ của Người. Chính sự hiệp thông với Đức Kitô nghèo khó đòi hỏi và khơi lên sự hiệp thông của chúng ta với người nghèo; đồng thời, sự hiệp thông ấy bảo đảm tính chân thực và ban cho việc phục vụ người nghèo sức mạnh cứu độ của Đức Kitô.
3. Đức khó nghèo mang dấu ấn đặc biệt của Đức Maria. Đức Maria là mẫu gương tuyệt hảo của “những người nghèo hèn khiêm tốn của Đức Chúa, luôn tin tưởng hy vọng và đón nhận ơn cứu độ từ Người”. [115] Mẹ cũng là người đã sống trong sự hiệp thông sâu xa và độc nhất với mầu nhiệm tự hạ của Đấng Cứu Độ. Nơi Mẹ, niềm hạnh phúc được hứa ban cho người nghèo đạt đến đỉnh cao, bởi Chúa đã đoái nhìn phận hèn của nữ tỳ Người. Vì thế, muôn thế hệ sẽ khen Mẹ diễm phúc. Là “Mẹ của người nghèo, người khiêm nhường và những người đơn sơ”, Đức Maria phải khơi dậy nơi chúng ta thái độ liên đới đầy trắc ẩn, mang nét “mẫu tử”, đối với những người nghèo trong thế giới hôm nay. [116] Chúng ta được mời gọi gieo vào tâm hồn họ niềm hy vọng nơi Thiên Chúa, Đấng giải phóng con người.
4. Đức khó nghèo phải hướng đến sứ vụ tông đồ. Đức khó nghèo phải làm cho chúng ta hoàn toàn sẵn sàng đảm nhận các công việc phục vụ Nước Thiên Chúa, đồng thời giúp chúng ta trở thành những người phát ngôn và chứng nhân cho Đức Giêsu Kitô cùng các giá trị Tin Mừng. “Giáo Hội loan báo Tin Mừng sẽ trở nên đáng tin khi những giá trị siêu việt mà Giáo Hội rao giảng được thể hiện qua đức khó nghèo của các thành viên.” [117] Việc loan báo Tin Mừng đòi hỏi thái độ đối thoại chân thành và thân thiện với mọi người, bất kể địa vị xã hội hay trình độ văn hóa. Điều đó cần đến một sự siêu thoát sâu xa nơi bản thân. Chỉ người thực sự nghèo khó mới có thể hiến thân trọn vẹn, hy sinh thời gian, sở thích cá nhân, sự thoải mái, các nguồn lực và thậm chí cả mạng sống vì Tin Mừng. Chỉ người ấy mới có thể tái hiện thái độ của Đức Giêsu, Đấng “hiền lành và khiêm nhường trong lòng”, hiện thân của việc loan báo Tin Mừng. Và chỉ người ấy, nhờ kinh nghiệm về những giới hạn và yếu đuối của mình, mới có thể tự do, can đảm và mạnh dạn công bố sứ điệp cứu độ, cậy dựa vào sức mạnh của chính sứ điệp ấy.
Đúng là sứ vụ cần đến các phương tiện và nguồn lực vật chất; Thiên Chúa cũng mời gọi chúng ta sử dụng tài sản và năng lực chuyên môn để phục vụ Nước Người. Vì thế, đức khó nghèo tông đồ đòi hỏi sử dụng những của cải ấy theo tinh thần Tin Mừng, để sứ điệp không bị bóp méo và để đời sống của nhà truyền giáo cũng như của cộng đoàn loan báo Tin Mừng cho thấy rõ rằng kho tàng duy nhất chúng ta tìm kiếm là Đức Kitô và những ân phúc cứu độ Người mang đến cho nhân loại. Chúng ta cũng phải luôn ghi nhớ rằng hiệu quả của Tin Mừng không phát xuất từ những quyền lực của thế gian như nguồn lực kinh tế, địa vị xã hội hay quyền lực chính trị, nhưng từ hoạt động tối thượng của Chúa Thánh Thần. Điều này đặt ra một thách đố cụ thể: làm thế nào duy trì nếp sống đơn sơ, thực sự nghèo khó và gần gũi với người dân, trong khi vẫn sử dụng những nguồn lực đáng kể cho công cuộc loan báo Tin Mừng? Làm thế nào dành ưu tiên cho những phương tiện tiết kiệm, phù hợp hơn với sứ điệp chúng ta công bố và thường có sức mạnh Tin Mừng lớn lao? [118]
5. Đức khó nghèo phải là dấu chỉ đặc trưng của những nhà truyền giáo phục vụ người nghèo. Nếu mọi hoạt động loan báo Tin Mừng đều phải mang dấu ấn của đức khó nghèo theo Tin Mừng để thực sự là Kitô giáo, thì điều này càng đúng hơn đối với sứ vụ được định hướng cách đặc biệt đến người nghèo, “những người không có quyền lực, […] những người mất hy vọng và bị tước đoạt các quyền của mình”. [119] Để chu toàn sứ mạng ấy, đức khó nghèo của chúng ta cần có những đặc điểm sau:
a) Làm chứng cho sự gần gũi với người dân. Tổng Tu nghị năm 1986 khẳng định: “Chúng ta muốn ở gần họ để chia sẻ những gì họ có và những gì chúng ta có, nhờ đó học biết nhìn Hội Thánh và thế giới từ góc nhìn của họ, cũng như nhìn họ bằng đôi mắt của Đấng Cứu Độ chịu đóng đinh (Hiến Pháp 4). Như thế, chúng ta được họ loan báo Tin Mừng cho mình, và trở thành những chứng nhân tốt hơn về sự hiện diện của Đức Giêsu, Đấng đã trở nên nghèo khó để giải phóng con người và toàn thể thụ tạo.” [120] Sự gần gũi và hiệp thông ấy thúc đẩy chúng ta xem xét lại nếp sống, chuyển đến sinh sống tại những khu vực nghèo hơn, chia sẻ nguồn lực với người nghèo và thậm chí chia sẻ chính nếp sống của họ. [121] Một số tu sĩ Hiến Sĩ tại Mỹ Latinh đang thực hiện điều này. Có lần, Đức cha Dom Helder Cámara nói: “Người nghèo biết Đức cha Dom Helder Cámara, nhưng những người hiểu biết người nghèo sâu sắc lại là các tu sĩ Hiến Sĩ truyền giáo, những người chia sẻ đời sống với họ.”
b)Hiện diện để giải phóng và nâng đỡ người nghèo trong cuộc đấu tranh cho công lý. Các tu sĩ Hiến Sĩ “sẽ cộng tác, theo ơn gọi của mình và bằng mọi phương tiện phù hợp với Tin Mừng, để thay đổi tất cả những gì gây ra áp bức và nghèo đói”, [122] nhằm xây dựng một xã hội mới dựa trên tình huynh đệ, nơi các quyền của con người được nhìn nhận.
c)Tôn trọng văn hóa của người nghèo. Người dân tại các nước đang phát triển thường có một hệ thống giá trị khác với hệ thống giá trị phổ biến trong xã hội phương Tây. Theo cách nhìn của họ, những yếu tố kinh tế và giá trị của thời gian không quan trọng bằng phẩm giá con người và những đòi hỏi căn bản của sự hiệp thông, gia đình, tình bạn và lòng hiếu khách. Việc hội nhập văn hóa của đức khó nghèo tu trì tại các quốc gia đang phát triển là một thách đố lớn đối với các bề trên và những người đào tạo, như cha Alexander Motanyane đã chỉ ra. [123] Tuy nhiên, thách đố này cần được đón nhận với quyết tâm và kiên nhẫn, thông qua đối thoại Tin Mừng trong tinh thần bình an.
Kết luận
Chúng ta đã thấy lý tưởng khó nghèo theo Tin Mừng, được Mai Thiên Lộc nhận ra và sống, rồi được những người đầu tiên theo ngài chia sẻ, đã được thể hiện trong đời sống của Hội Dòng Hiến sĩ Đức Mẹ Vô Nhiễm trong bối cảnh các trào lưu linh đạo của thời đại. Chúng ta cũng đã thấy lý tưởng ấy được làm phong phú nhờ những cách tiếp cận mới về thần học, linh đạo và mục vụ của Công đồng Vaticanô II cũng như giai đoạn sau Công đồng.Những thời đại mới mở ra những phương thức mới để sống đời thánh hiến trong đời sống cá nhân, cộng đoàn và hoạt động tông đồ. Tuy nhiên, chính sức sống Kitô giáo ấy, với hai chiều kích gắn bó mật thiết là những đòi hỏi của khổ chế và sức thúc đẩy của đời sống thần bí, giúp chúng ta hiểu được sức năng động mãnh liệt đã hiện diện ngay từ những ngày đầu thành lập Hội Dòng.Mai Thiên Lộc mong muốn xây dựng một cộng đoàn để loan báo Tin Mừng cho người nghèo. Ngài đặt nền tảng sống động của cộng đoàn ấy trên sự kết hợp mật thiết với Đức Kitô, Đấng đã trở nên nghèo khó và là Đấng giải phóng con người khỏi mọi hình thức nghèo đói đang xâm phạm cuộc sống. Người nghèo mang nhiều khuôn mặt khác nhau; đức khó nghèo Hiến Sĩ cũng biểu lộ qua nhiều hình thức khác nhau, nhưng vẫn luôn giữ được sức thúc đẩy mạnh mẽ của đặc sủng ban đầu.Hôm nay cũng như ngày trước, các tu sĩ Hiến Sĩ chọn sống khó nghèo để “bước vào sự hiệp thông sâu xa hơn với Đức Giêsu và với người nghèo”. [124] Và vì sống trong sự hiệp thông kép ấy, họ không thể ngừng yêu mến và nhiệt thành thực hành đức khó nghèo theo Tin Mừng.
Nguồn: OMI World – Poverty
Thư mục tham khảo
CASTERMAN, Lucien, Pauvreté religieuse missionnaire oblate, bản thảo đánh máy, 10 trang.
NOTTEBAERT, André, Les exigences spirituelles d'une pauvreté religieuse missionnaire, bản thảo đánh máy, 15 trang.
POWER, David, Poverty, bản thảo đánh máy, 10 trang.
REINHARD, William, Oblate Missionary Poverty, bản thảo đánh máy, 28 trang.
Bốn bài viết trên được soạn năm 1971 để chuẩn bị cho Tổng Tu nghij và được cha Marius Nogaret tóm lược trong bài viết “Religious Poverty”, đăng trong O.M.I. Documentation, số 31/71, dài 30 trang.
JETTÉ, Fernand, O.M.I., The Apostolic Man: A Commentary on the 1982 Edition of the Oblate Constitutions and Rules, Nhà Tổng quyền, Rôma, 1992, tr. 152–166. Tác giả chú giải các điều khoản trong Hiến Pháp và Quy Luật liên quan đến đức khó nghèo.
Chú thích
[1] Xem LEFLON, tập I, tr. 37. Cũng xem Eugène de Mazenod, Các văn phẩm thiêng liêng, trong bộ Oblate Writings I, tập 14, tr. 67.
[2] LEFLON, tập I, tr. 152.
[3] Như trên, tr. 245.
[4] Như trên, tr. 258.
[5] Thư gửi bà de Mazenod, ngày 29 tháng 6 năm 1808, trong Oblate Writings I, tập 14, số 27, tr. 56. Xem thêm LEFLON, tập I, tr. 287–288.
[6] LEFLON, tập I, tr. 303–304. Các quyết tâm trong kỳ tĩnh tâm tháng 10 năm 1808, trong Oblate Writings I, tập 14, số 28, tr. 62.
[7] LEFLON, tập I, tr. 304–305.
[8] Thư gửi mẹ, ngày 28 tháng 2 năm 1809, trong LEFLON, tập I, tr. 304.
[9] Thư gửi mẹ, ngày 29 tháng 5 năm 1809, trong LEFLON, tập I, tr. 306. Xem thêm Oblate Writings I, tập 14, số 55, tr. 124.
[10] LEFLON, tập I, tr. 308.
[11] Gương Chúa Giêsu, quyển II, chương 12, mục 7.
[12] Quy luật được soạn trong kỳ tĩnh tâm tháng 12 năm 1812 tại Aix, trong Oblate Writings I, tập 15, số 109, tr. 16.
[13] Thư gửi cha Fortuné de Mazenod tại Palermo, ngày 17 tháng 11 năm 1817, trong Oblate Writings I, tập 15, số 143, tr. 140.
[14] LEFLON, tập IV, tr. 319–320.
[15] Hiến Pháp và Quy Luật năm 1818, Phần thứ nhất, Chương I, mục 1, trong Missions, tập 78 (1951), tr. 45.
[16] Xem thư gửi cha Tempier, ngày 28 tháng 1 năm 1826, trong Oblate Writings I, tập 7, số 221, tr. 21–22.
[17] Xem các thư gửi cha Tempier ngày 30 tháng 3 và ngày 10 tháng 6 năm 1826, như trên, số 233, tr. 72 và số 248, tr. 113–114; cùng nhật ký ngày 12 tháng 3 năm 1826 của ngài, trong Missions, tập 10 (1872), tr. 346. Ngài rất vui trước lòng hiếu khách của Trung tâm Chúa Ba Ngôi dành cho khách hành hương và mong muốn trực tiếp tham gia công việc tại đây. Tuy nhiên, để thực hiện điều đó, ngài phải chính thức gia nhập hội đoàn. Dù được mời, ngài đã từ chối vì lòng yêu mến đức khó nghèo: “Nỗi lo sợ làm điều gì trái với đức khó nghèo đã ngăn cản tôi; đó là nhân đức mà bổn phận buộc tôi phải hy sinh mọi điều có thể đem lại niềm vui cho tôi hoặc chỉ có giá trị thứ yếu.” (Nhật ký, như trên.)
[18] Thư ngày 1 tháng 7 năm 1825, trong Oblate Writings I, tập 6, số 190, tr. 180.
[19] “[…] trong vấn đề này, Thiên Chúa đã ban cho tôi ân sủng dồi dào […]”, thư gửi mẹ ngày 29 tháng 5 năm 1809, trong Oblate Writings I, tập 14, số 55, tr. 124. “Tôi tạ ơn Thiên Chúa vì đã ban cho tôi tinh thần siêu thoát này; tôi khinh thường tiền bạc và không dùng tiền bạc cho bản thân.” Ghi chép trong kỳ tĩnh tâm năm 1821, như trên, tập 15, số 155, tr. 169.
[20] Thư gửi cha Tempier, ngày 9 tháng 10 năm 1815, trong Oblate Writings I, tập 6, số 4, tr. 7.
[21] Mélanges historiques, tr. 30–32, được trích dẫn trong COSENTINO, Georges, Histoire de nos Règles, Ottawa, Oblate Studies Edition, 1955, tập I, tr. 36.
[22] Trong Oblate Writings I, tập 8, số 383, tr. 11.
[23] Thư gửi Đấng Sáng lập, ngày 16 tháng 11 năm 1819, trong François de Paule Henry Tempier…, Selected Letters – Various Writings, bộ Oblate Writings II, tập 2, tr. 41–42.
[24] Thư gửi cha Tempier, ngày 16 tháng 11 năm 1819, trong Oblate Writings I, tập 6, số 47, tr. 62.
[25] Xem COSENTINO, Georges, sđd., tập II, tr. 30.
[26] Hiến Pháp và Quy Luật của Hội Truyền giáo Provence, năm 1818, Phần thứ hai, Chương I, mục 1, trong Missions, tập 78 (1951), tr. 45.
[27] Như trên, tr. 49.
[28] Xem COSENTINO, Georges, sđd., tập I, tr. 186–189.
[29] Hiến Pháp và Quy Luật năm 1818, Phần thứ hai, Chương I, mục 1, trong Missions, tập 78 (1951), tr. 44–45. Xem COSENTINO, Georges, sđd., tập I, tr. 187.
[30] Hiến Pháp và Quy Luật năm 1818, sđd., tr. 44.
[31] Như trên, tr. 45–47. Có hai điểm đáng lưu ý. Thứ nhất, văn bản đề cập đến một lời khấn, mặc dù trên thực tế không có lời khấn nào được tuyên. Có lẽ điều này xuất phát từ việc Đấng Sáng lập dựa vào Luật Dòng của thánh Anphongsô. Thứ hai, các danh dự và bổng lộc trong Giáo hội (rõ ràng là những bổng lộc thuộc Giáo hội) được đề cập trong bối cảnh bàn về đức khó nghèo. Có thể xác định rằng điều được nói đến ở đây là những lợi ích vật chất thường đi kèm với các danh dự ấy, vốn có thể đe dọa tinh thần khó nghèo. Xem COSENTINO, Georges, sđd., tập I, tr. 220.
[32] Xem như trên, tr. 87–90. Ở đây, chúng tôi không đề cập đến vấn đề đồ đạc trong nhà và y phục, cũng như các quy định pháp lý về tài sản mà tu sĩ giữ quyền sở hữu, với khả năng chuyển giao tài sản ấy cho cha mẹ hoặc cho Hội Dòng. Tuy nhiên, Hội Dòng không nhận tài sản thừa kế từ những thành viên có cha mẹ nghèo. Chúng tôi cũng không đề cập đến các khoản thu nhập của một nhà, vốn phải được giới hạn ở mức 6.000 quan Pháp, v.v.
[33] Hiến Pháp và Quy Luật năm 1818, sđd., tr. 49. Xem COSENTINO, Georges, sđd., tập I, tr. 90.
[34] Hiến Pháp và Quy Luật năm 1818, Phần thứ nhất, Chương II, mục 2, trong Missions, tập 78 (1951), tr. 30.
[35] “Vào những ngày thường, tại nhà ăn, chúng ta sẽ ăn chay bằng bánh mì khô. […] Mong sao chúng ta bằng lòng ngủ trên những chiếc giường đơn sơ, như những người rao giảng việc đền tội cho người khác phải sống như thế.” Hiến Pháp và Quy Luật năm 1818, Phần thứ hai, Chương II, mục 2, trong Missions, tập 78 (1951), tr. 65.
[36] “[…] tôi nhận ra đời sống trọn lành tu trì và việc tuân giữ các lời khuyên Phúc Âm không còn những khó khăn mà trước đây tôi từng gặp. Tôi tự hỏi tại sao mình không thêm lời khấn khó nghèo vào hai lời khấn khiết tịnh và vâng phục đã tuyên trước đây. Khi suy xét những nghĩa vụ khác nhau mà đức khó nghèo theo tinh thần Tin Mừng đòi hỏi, tôi không thấy điều nào khiến mình chùn bước.” Tĩnh tâm tháng 5 năm 1818, trong Oblate Writings I, tập 15, số 145, tr. 145. Chúng ta không biết Đấng Sáng lập đã tuyên lời khấn này vào ngày nào. Xem COSENTINO, Georges, sđd., tập II, tr. 29.
[37] Thư cha Tempier gửi cha Mai Thiên Lộc ngày 23 tháng 11 năm 1820 cho thấy rất rõ thái độ của chính ngài cũng như của các tu sĩ Hiến Sĩ khác tại Laus: “Trong kỳ tĩnh tâm, Chúa nhân lành đã ban cho tôi một ân sủng lớn lao để hiểu và quý trọng nhân đức này, đến nỗi tôi thực sự phải tự cưỡng ép mình mới không tuyên lời khấn. Tôi cũng muốn dâng lên Thiên Chúa một điều gì đó để đền đáp […] Tôi xin cam đoan với cha rằng, nếu được cha chấp thuận, tôi đã không phải là người duy nhất muốn nếm hưởng gấp trăm mà Chúa chúng ta đã hứa ban cho những ai từ bỏ mọi sự vì lòng yêu mến Người. Số người noi gương tôi hẳn sẽ đông bằng số người con của cha tại Notre-Dame du Laus; đến nỗi, dù chưa tuyên lời khấn này, tất cả họ đều muốn từ bỏ quyền sở hữu những gì mình có và đưa mọi sự vào đời sống chung.” Trong Oblate Writings I, tập 2, số 24, tr. 45–46.
[38] “Mọi sự sẽ là của chung trong Hội Dòng, xét theo việc sử dụng cho đời sống.” (Omnia erunt in Societate communia quoad usum vitae.) Xem COSENTINO, Georges, sđd., tập II, tr. 105.
[39] “Anh em hãy khiêm tốn và vui vẻ đón nhận những bất tiện và thiếu thốn của đức khó nghèo mà mình đã tuyên khấn. Tình trạng ấy, vì phù hợp hơn với tinh thần khổ chế mà người sống theo tinh thần Tin Mừng phải có, cần được ưu tiên hơn những tiện nghi của đời sống.” Constitutiones, Regulae et Instituta Societatis…, phần II, chương 3, mục 5, điều 7.
[40] Hiến Pháp và Quy Luật năm 1853, phần II, chương 2, mục 3, điều V.
[41] Như trên, điều VII.
[42] Xem PIELORZ, Józef, Les Chapitres généraux au temps du Fondateur, Ottawa, Oblate Studies Edition, 1968, tập I, tr. 105, 128, 156, 189 và 202.
[43] Hiến Pháp và Quy Luật, phần Lời tựa.
[44] Hiến Pháp và Quy Luật năm 1853, Phần thứ ba, Chương III, mục 1, điều 19. Bản văn năm 1853 có một số điểm được cải thiện so với bản năm 1826.
[45] Thư gửi Đấng Sáng lập, ngày 16 tháng 11 năm 1819, trong Oblate Writings II, tập 2, tr. 41–42.
[46] Trong Oblate Writings II, tập I, tr. 224.
[47] DRAGO, Gaetano, L’apostolo della Corsica, P. Carlo D. Albini, missionario oblato di Maria Immacolata, Rôma, Istituto Grafico Tireno, 1942, tr. 253–254.
[48] Trong báo cáo năm 1908, cha Gérard viết rằng việc thăm viếng các gia đình tại các làng “là công việc quan trọng nhất: chính ở đó chúng tôi thả lưới. Không bao giờ có thể nói rằng mình thăm các làng quá thường xuyên. Cũng phải thừa nhận rằng đây là công việc khó khăn: dưới ánh nắng gay gắt của chúng tôi, không có lấy một bóng cây che chở, vào mọi thời điểm và mọi mùa trong năm, phải chạy từ làng này sang làng khác khắp vùng, mà đường sá lại như thế nào!” Trích dẫn trong BEAUDOIN, Yvon, Blessed Joseph Gérard, O.M.I., Apostle to the Basotho (1831–1914), Rôma, Tổng Cáo thỉnh viện, 1988, bộ Oblate Writings II, tập 3, tr. 144.
[49] Kinh lý theo giáo luật ngày 8 tháng 1 năm 1889, như trên, tr. 96.
[50] Thư gửi cha Étienne Semeria, ngày 17 tháng 8 năm 1848, trong Oblate Writings I, tập 4, số 4, tr. 16.
[51] Thư gửi cha Toussaint Dassy, ngày 12 tháng 2 năm 1848, trong Oblate Writings I, tập 10, số 966, tr. 211.
[52] Thư gửi các thành viên Hội đồng Trung ương của Hội Truyền bá Đức tin, ngày 17 tháng 4 năm 1852, trong Oblate Writings I, tập 5, số 135, tr. 251.
[53] Thư gửi Đức cha Ignatius Bourget, ngày 13 tháng 4 năm 1842, trong Oblate Writings I, tập 1, số 11, tr. 22; xem thêm thư gửi cha Bruno Guigues, ngày 25 tháng 9 năm 1844, như trên, số 47, tr. 106–107.
[54] Thư gửi cha Honorat, ngày 16 tháng 1 năm 1829, trong Oblate Writings I, tập 7, số 322, tr. 173–174. Đấng Sáng lập phàn nàn về các khoản chi tiêu của nhà tại Nîmes liên quan đến thực phẩm, đồ đạc, sách vở, việc cắt tóc và tiền bố thí.
[55] Thư ngày 18 tháng 8 năm 1843, trong Oblate Writings I, tập 1, số 24, tr. 58.
[56] Thư ngày 16 tháng 12 năm 1857, trong Oblate Writings I, tập 2, số 243, tr. 168.
[57] Thư ngày 20 tháng 1 năm 1847, như trên, số 227, tr. 136.
[58] Thư ngày 11 tháng 2 năm 1826, trong Oblate Writings I, tập 7, số 223, tr. 29.
[59] Thư gửi cha Tempier, ngày 24 tháng 10 năm 1830, như trên, số 367, tr. 218–219.
[60] Thư luân lưu số 1, ngày 2 tháng 8 năm 1853, trong Oblate Writings I, tập 12, tr. 203–205.
[61] Như trên, tr. 207.
[62] Xem PIELORZ, Józef, Les Chapitres généraux au temps du Fondateur, Ottawa, Oblate Studies Edition, 1968, tập II, tr. 48 và 73.
[63] Như trên, tr. 81. Một chỉ thị của Bề trên Tổng quyền, quy định những loại y phục mà mỗi nhà truyền giáo phải có, được gửi kèm thư luân lưu; xem như trên, tr. 104–105.
[64] Thư luân lưu số 2, ngày 2 tháng 2 năm 1857, trong Oblate Writings I, tập 12, tr. 210–216; xem PIELORZ, Józef, sđd., tr. 95–96.
[65] Xem biên bản Tổng Tu nghị năm 1867, số 2, và Tổng Tu nghị năm 1920, số 8, trong COSENTINO, Georges, Nos Chapitres généraux, Ottawa, Oblate Studies Edition, 1957, tr. 80 và 190.
[66] Xem tuyên bố V của Tổng Tu nghị năm 1879 và tuyên bố VI của Tổng Tu nghị năm 1887, như trên, tr. 114 và 123.
[67] Điều 213.
[68] Mục De voto paupertatis (Về lời khấn khó nghèo), các điều XL, XLI và XLII, trong COSENTINO, Georges, sđd., tr. 82. Xem Hiến Pháp và Quy Luật năm 1928, các điều 190–192.
[69] Các quyết nghị của Tổng Tu nghị năm 1873, lời khuyến cáo II, trong COSENTINO, Georges, sđd., tr. 106. Nhận xét tương tự được nêu lại tại Tổng Tu nghị năm 1898, số 42; năm 1920, số 28; năm 1932, số 23; và năm 1947, số 27; như trên, tr. 148, 193, 222 và 249.
[70] Nhận xét số 2, như trên, tr. 174. Một lời khuyến cáo tương tự xuất hiện tại Tổng Tu nghị năm 1947, số 21: “Ngoài ra, [Tổng Tu nghị] nhắc nhở tất cả anh em hãy thực sự hành động và sống như những người nghèo.” (Monet praeterea [Capitulum] omnes ut vere more pauperum agant et vivant.) Như trên, tr. 248.
[71] Kể từ năm 1873, sáu Tổng Tu nghị đã chú ý đến việc sử dụng thuốc lá để hút, chứ không phải thuốc lá hít. Tại Tổng Tu nghị năm 1873, các thành viên yêu cầu không đưa việc sử dụng thuốc lá vào đời sống tu trì nếu không có lý do chính đáng và không được sử dụng khi chưa được phép (nhận xét III, như trên, tr. 106). Tổng Tu nghị năm 1879 có lập trường nghiêm khắc hơn: cấm tuyệt đối việc sử dụng thuốc lá, nhưng cho phép những người cảm thấy cần dùng thuốc lá xin Bề trên Tỉnh dòng miễn chuẩn quy định này; họ chỉ được hút thuốc khi ở một mình (sắc lệnh III, như trên, tr. 113). Tổng Tu nghị năm 1898 giữ nguyên quy định ấy (số 31, như trên, tr. 147). Tổng Tu nghị năm 1920 nới lỏng hạn chế, quy định rằng không ai được hút thuốc nếu chưa có phép của Bề trên Tỉnh dòng hoặc Đại diện miền Truyền giáo, và chỉ được hút khi ở một mình, trừ những hoàn cảnh đặc biệt (số 22, như trên, tr. 192). Năm 1932, yêu cầu chỉ được hút thuốc khi ở một mình bị bãi bỏ (số 26, như trên, tr. 222); quy định này tiếp tục được giữ nguyên vào năm 1947 (số 30, như trên, tr. 249).
[72] Xem các Tổng Tu nghị năm 1920, 1926, 1932 và 1947, như trên, tr. 193, 212, 222 và 249.
[73] LAVILLARDIÈRE, August, thư luân lưu số 92, ngày 21 tháng 4 năm 1907, trong Circ. adm., tập III (1901–1921), tr. 205. Xem LEVASSEUR, Donat, Histoire des Missionnaires Oblats de Marie Immaculée, tập II, 1898–1985, Montréal, Nhà Tỉnh Dòng, 1986, tr. 14–16.
[74] “Báo cáo về Hạt Đại diện Athabaska–Mackenzie”, ngày 4 tháng 5 năm 1898, trong Missions, tập 36 (1898), tr. 180–181.
[75] Trích dẫn trong 50 años de los Oblatos de María Inmaculada en el Chaco, 1975, tr. 24. Vài trang sau, tác giả nhắc đến thời kỳ Chiến tranh thế giới thứ hai: “Nghèo khó, thiếu thốn, khốn cùng ở khắp nơi. Có một thực tế không được đề cập trong bất kỳ lá thư hay bản tin nào […] nhưng vẫn là một sự thật đau lòng: đã hơn một lần nhà truyền giáo phải xin chính người bản địa bố thí cho mình một con cá hoặc một loại rau […] và đã có hơn một nhà truyền giáo may áo sơ mi cho mình từ những bao bột mì, cùng nhiều việc tương tự khác.” (Như trên, tr. 48.)
[76] Bộ Giáo luật, điều 607 § 1.
[77] Hiến chế Ánh sáng muôn dân (Lumen Gentium), số 44, mục 3.
[78] Sắc lệnh Đức ái trọn hảo (Perfectae Caritatis), số 13, mục 1.
[79] Như trên. Xem Bộ Giáo luật, điều 600: “Lời khuyên Phúc Âm về đức khó nghèo, theo gương Đức Kitô, Đấng vốn giàu sang nhưng đã trở nên nghèo khó vì chúng ta, đòi hỏi một đời sống nghèo khó thực sự và trong tinh thần, tiết độ, chuyên cần lao động và xa tránh của cải trần thế. Lời khuyên ấy cũng bao hàm sự lệ thuộc và giới hạn trong việc sử dụng cũng như định đoạt tài sản […]”.
[80] Tông huấn Chứng tá Tin Mừng (Evangelica Testificatio), số 17: “Hơn bao giờ hết, anh em nghe tiếng kêu của người nghèo vang lên từ nỗi đau riêng và cảnh khốn cùng chung của họ […]. Trong một thế giới đang biến đổi sâu sắc, tình trạng dai dẳng ấy của các tập thể và cá nhân, tình trạng khốn cùng ấy, là lời kêu gọi cấp bách đòi phải ‘hoán cải não trạng và thái độ’, đặc biệt đối với anh em là những người ‘theo sát’ Đức Kitô hơn trong tình trạng nghèo khó tự hạ của Người nơi trần thế.”
[81] Hiến Pháp và Quy Luật năm 1966, Hiến Pháp 25, tr. 13.
[82] Như trên, Hiến Pháp 26, tr. 13.
[83] Như trên, Hiến Pháp 28, tr. 13.
[84] Như trên, Hiến Pháp 26, tr. 13.
[85] Như trên, Hiến Pháp 30, tr. 14.
[86] Như trên, Hiến Pháp 30, tr. 14.
[87] Như trên, Hiến Pháp 29, tr. 14.
[88] Như trên, Hiến Pháp 31, tr. 14.
[89] Hiến Pháp và Quy Luật năm 1818, Phần thứ nhất, Chương II, mục 1, điều 2, trong Missions, tập 78 (1951), tr. 20.
[90] Hiến Pháp và Quy Luật năm 1818, Phần thứ hai, Chương I, mục 1, trong Missions, tập 78 (1951), tr. 45.
[91] Hiến Pháp và Quy Luật năm 1966, Quy Luật 58, tr. 76.
[92] Số 18.
[93] Missionary Outlook, số 5, tr. 7.
[94] Như trên, số 9, tr. 11.
[95] Như trên, số 15, tr. 16–19.
[96] Như trên, số 16, tr. 20.
[97] Như trên.
[98] Như trên, số 17, tr. 24.
[99] “Chúng ta có thể học hỏi nơi người nghèo, nhất là biết đón nhận sự kiên nhẫn, niềm hy vọng và tinh thần liên đới của họ.” Hiến Pháp 20; xem Quy Luật 8a.
[100] “[…] chúng ta vui lòng chấp nhận việc không có sẵn những tiện nghi mà mình mong muốn.” Hiến Lháp 21.
[101] Quy Luật 22a.
[102] Như trên.
[103] JETTÉ, Fernand, O.M.I., The Apostolic Man: A Commentary on the 1982 Edition of the Oblate Constitutions and Rules, Nhà Tổng quyền, Rôma, 1992, tr. 157.
[104] Quy Luật 9a minh nhiên chấp nhận sự đa dạng trong thái độ và cách thức dấn thân: “Đáp lại lời mời gọi của Chúa Thánh Thần, một số tu sĩ Hiến Sĩ đồng hóa mình với người nghèo, chia sẻ đời sống và sự dấn thân của họ cho công bằng; những người khác hiện diện tại những nơi đưa ra các quyết định ảnh hưởng đến tương lai của người nghèo.” Thật đáng tiếc nếu những thái độ này trở nên đối lập hoàn toàn và không còn được nhìn nhận như những cách thức bổ túc cho nhau.
[105] Ngài sẽ hành động theo cách tương tự khi, sau khi đã tuyên khấn, ngài nhận được tài sản thừa kế. Xem Quy Luật 23a và 23b.
[106] JETTÉ, Fernand, O.M.I., The Apostolic Man…, tr. 158–159.
[107] Xem Missionaries in Today’s World, số 10–30. Cuộc đối thoại giữa các tu sĩ Hiến sĩ Bắc–Nam tại châu Mỹ đã bắt đầu và hứa hẹn mang lại nhiều hoa trái tốt đẹp.
[108] Xây dựng nền văn minh tình thương, Puebla 1979: Văn kiện chung kết của Hội nghị toàn thể lần thứ ba của hàng Giám mục Mỹ Latinh về hiện tại và tương lai của công cuộc loan báo Tin Mừng, Paris, Le Centurion, 1980, số 733 và 734, tr. 161.
[109] “Gửi các thành viên Hội nghị Hiến Sĩ Mỹ Latinh”, ngày 15 tháng 9 năm 1979, trong Letters to the Oblates of Mary Immaculate, Nhà Tổng quyền, Rôma, 1984, số 26, tr. 198–199.
[110] “Tổng Tu nghị năm 1980”, ngày 8 tháng 12 năm 1980, như trên, số 11, tr. 84–85.
[111] Linh thao, tuần thứ hai, ngày thứ tư, phần thứ nhất, điểm thứ ba; phần thứ hai, điểm thứ ba, số 142 và 146.
[112] Phần Lời tựa. Việc liên kết ba ý tưởng này thường xuyên xuất hiện trong các văn phẩm của thánh Mai Thiên Lộc.
[113] Hiến Pháp và Quy Luật năm 1818, Phần thứ hai, Chương I, mục 1, trong Missions, tập 78 (1951), tr. 48. Đoạn văn này, được trích từ thánh Anphongsô, đã được đưa vào tất cả các ấn bản Hiến Pháp và Quy Luật cho đến năm 1928. Hiến Pháp và Quy Luật năm 1966 viết: “Với lòng tín thác của người con vào sự Quan phòng của Thiên Chúa và với tinh thần thực sự siêu thoát khỏi của cải vật chất, họ sẽ gạt bỏ mọi mối bận tâm thái quá về ngày mai […]” (Hiến Pháp 31).
[114] Quy Luật 22a.
[115] Hiến chế Ánh sáng muôn dân (Lumen Gentium), số 55.
[116] Như trên, số 65: “Trong đời sống của mình, Đức Trinh Nữ là mẫu gương của tình yêu hiền mẫu mà tất cả những ai tham gia vào sứ mạng tông đồ của Giáo hội nhằm tái sinh nhân loại đều phải được khơi dậy và nuôi dưỡng.”
[117] GALILEA, S., Espiritualidad de la evangelización según las bienaventuranzas, Clar, Bogotá, 1982, tr. 45.
[118] “Chúng ta không thể loan báo các Mối Phúc một cách đáng tin nếu sử dụng những phương tiện và nguồn lực đi ngược lại chính điều mình rao giảng; chúng ta không thể đến với người nghèo bằng một phong cách và những phương pháp xa lạ với họ, khiến chúng ta bị xếp vào ‘thế giới của người giàu’.” Như trên, tr. 48. Xem Missionaries in Today’s World, số 18: “Chúng ta không thể rao giảng một Thiên Chúa đã trở nên nghèo khó nếu chính cách sống của chúng ta không thực sự theo bước Người.”
[119] Các quyết nghị của Tổng Tu nghị năm 1992, số 2.
[120] Missionaries in Today’s World, số 16.
[121] Như trên, số 24–25.
[122] Quy Luật 9a; xem Missionaries in Today’s World, số 19–20 và 27–29.
[123] “Về việc hội nhập văn hóa đời sống tu trì tại châu Phi”, trong Documentation OMI, số 191, tháng 3 năm 1993, 23 trang.
[124] Hiến Pháp 20. Trong Hiến Pháp và Quy Luật năm 1966, cách diễn đạt được sử dụng là các tu sĩ Hiến Sĩ tìm thấy nơi đức khó nghèo tự nguyện “một phương thế kết hợp với Đức Kitô và với người nghèo”. Hiến Pháp 25.
