Mỗi dịp vào năm học mới, chúng tôi lại được gửi đi mục vụ tại các giáo xứ lân cận Học viện, thuộc khu vực Phú Cường, để học tập mục vụ. Năm nay, tôi được sai đến một giáo xứ xa hơn hẳn, tận miền Bắc Tân Uyên. Từ nơi tôi tu học đến giáo xứ, cả đi lẫn về hơn 70 cây số. Nghĩ tới đã thấy ngại! Mỗi sáng Chúa nhật, vừa mở mắt ra, đọc xong kinh sáng là tôi phải vội vã lên đường, chẳng kịp nuốt một miếng bánh, ba chân bốn cẳng chạy cho kịp giờ lễ. Giữa những chuyến đi nhọc nhằn ấy, có một câu hỏi cứ đau đáu trong tôi: “Làm sao để Tin Mừng được lan rộng?” Tôi cứ ngỡ mình là người được sai đến với đoàn chiên, vất vả vì họ, cho đến ngày gặp một người đã rời quê miền Bắc, lặn lội vào tận đây kiếm miếng cơm - manh áo, mà việc đầu tiên là tìm một ngôi nhà thờ để được ở gần.

Người ấy là một chị, gia đình sống ở vùng giáo xứ bên cạnh. Tôi gặp chị cách đây vài hôm, khi ghé thăm nhà chị. Chị ngồi bên hiên, giọng nhẹ mà nặng trĩu:

– “Cuộc sống cực lắm thầy ơi. Mưu sinh mà, vì miếng cơm manh áo nên mới phải bỏ quê ngoài Bắc vào đây. Thấy có nhà thờ là con tìm cách ở gần. Đói chút mà có Chúa thì vẫn thấy yên lòng hơn thầy ạ!”

Chị đưa mắt nhìn xa xăm. Tôi im lặng một lúc, rồi lảng sang chuyện khác:

– “Năm nay chưa tới Noel mà sáng nào em cũng thấy lạnh. Vùng Bắc Tân Uyên nhiều cây cối nên trời lạnh sớm hơn!”

Chị trầm ngâm:

– “Ấy thế mà mấy anh chị công nhân tụi con ngày nào cũng phải dậy theo ca, có ca từ hai, ba giờ sáng, có ca làm đến tối mịt đấy thầy ạ.”

Tôi không biết đáp lại thế nào. Trong đầu có sẵn cả chục câu an ủi, nhưng chẳng câu nào dám bước ra. Chị cười, như sợ làm tôi khó xử:

– “Thầy uống nước đi. Nhà trọ nên không có gì đâu. Còn ít cơm nguội với cá kho, lát thầy ở lại dùng cơm với gia đình con nha!”

Tôi nhìn quanh. Căn phòng mà cả gia đình chị tá túc nhiều năm nay chỉ rộng bằng cái chiếu manh trải đôi, mái tôn thấp đến mức người cao hơn tôi chút là phải cúi đầu. Ánh mắt tôi lướt một vòng, chẳng có gì đáng giá; Góc tường có tấm ảnh Đức Mẹ dán bằng băng keo đã ngả vàng, bên cạnh là chuỗi Mân Côi treo lủng lẳng trên cây đinh. Đứa nhỏ ngủ trên chiếc chiếu, quạt máy quay vù vù, thổi hơi nóng qua lại, khiến cảm giác như ngộp thở ! Ngoài cửa, tờ giấy ghi tiền điện, tiền nước viết bằng bút bi, nét chữ của chủ nhà hơi nguệch ngoạc. Chị kể, giọng đều đều như chuyện của người khác! Ngày thường chị tăng ca đến tám, chín giờ tối. Chúa nhật có khi cũng phải đi làm. Có bữa chị chạy xe đến nhà thờ thì lễ đã gần xong, chỉ kịp đứng ngoài sân, tay còn cầm chiếc nón.

– “Sao chị không vào trong?” – tôi hỏi.

Chị im lặng một lúc, rồi cúi xuống, giọng nhỏ lại:

– “Dạ, con đến trễ, lại mặc đồ công ty, sợ cha trách. Có hôm mấy ông đứng ngoài như bảo vệ, ai đi lễ mà ăn mặc không chỉnh tề là mấy ông nhắc ngay. Nhưng đâu phải tụi con muốn thế! Cuộc sống tha phương cầu thực mà thầy, có việc làm thì lỡ lễ, đi lễ thì sợ mất việc. Tính sao cũng không đành!…”

Giọng chị đượm buồn. Nghe chị nói, tôi chợt nhớ những sáng Chúa nhật mình mặc áo dòng thũng thĩnh đứng gần cửa nhà thờ, vừa liếc đồng hồ, thấy người vào muộn thì thoáng khó chịu trong lòng:

– “Cả tuần có đúng một tiếng để ca tụng Chúa, thế mà không lo đến sớm! Chán chẳng muốn nói!”

Nghĩ lại, tôi thấy ngượng. Người tôi liếc hôm ấy, có khi vừa chạy mấy chục cây số sau giờ tan ca để đến kịp Thánh lễ. Nghĩ đến đấy, tôi giật mình, uống vội ly nước để giấu cái ngượng trên mặt. Ánh mắt tôi tìm về góc tường, nơi tấm ảnh Đức Mẹ vẫn được dán ngay ngắn. Bất giác, tôi nhớ đến lời ru của mẹ năm nào.…

……………..

Đó là những năm 1998 – 2000, thời những người trong làng tôi mới bắt đầu nghe nói đến “in tạc - nét”. Cả xóm chỉ có một nhà có chiếc tivi đen trắng, đôi khi đang xem lại mất tín hiệu. Tối nào đám trẻ con và các cụ già cũng nô nức kéo nhau đến xem ké phim Hồng Kông, có hôm xem đến tối mịt.

Ngày ấy, bố mẹ tôi cũng là những người di dân thực thụ, cũng từ miền Bắc chạy vào, cũng vì miếng cơm manh áo. Hai ông bà đi coi rẫy thuê cho người ta, mà rẫy thì ở xa lắm, nên “cái chòi” nhà tôi cũng cách nhà thờ năm, bảy cây số (gọi là chòi vì nó chẳng phải nhà được dựng ngay ngắn, nó được dựng bằng ít cỏ tranh và vài cây kèo cũ…) Bố mẹ dựng tạm cái chòi tranh nhỏ bên cuối rẫy. Ban ngày, mấy chị em chơi với nhau để bố mẹ đi làm. Ban đêm, bố còn đi kéo máy bơm tưới dưa cho chủ. Ba chị em tôi nằm trên chiếc phản cũ, dưới ánh trăng mờ. Mẹ ngồi bên, khe khẽ hát ru bằng bài thánh ca kính Đức Mẹ: “Cung chúc Trinh Vương không hề nhiễm tội truyền…”. (hay có lẽ vì cái duyên đó mà giờ tôi đi tu dòng Hiến Sĩ Đức Mẹ Vô Nhiễm! Hihi). Có lẽ cái máu đạo đã in sâu vào tiềm thức của người di dân. Vì thế, dù xa đến mấy, bố mẹ tôi vẫn không bỏ ngày lễ Chúa nhật nào.

Cứ chiều thứ Bảy hằng tuần, bố mẹ lại phải nhờ Chú vào đón ba chị em tôi ra ngoài xứ để kịp dự lễ Chúa nhật. Khổ nỗi, làm gì có chỗ ở! Đành xin ở nhờ nhà dân; Có nhà xuề xòa, có nhà chỉ im lặng, lại có người vui tính nói đùa mà nghe như nói thật:

– “sao không bảo anh chị kéo theo cái chòi ra đây, tiện cho mấy đứa nhỏ có chỗ ngủ…kkk”.

Chú tôi nhiều lúc cũng vui vẻ cười ngượng theo.

Lễ sáng Chúa nhật rất đông, nhà thờ lại bé tí, Bố mẹ phải lùa mấy chị em lóc cóc dậy sớm mới có chỗ đẹp mà ngồi. Có hôm bố phải làm đêm thứ Bảy, sáng Chúa nhật cả nhà đành đi sớm, năm người trên hai chiếc xe đạp cũ. Đạp mãi mới tới nhà thờ, chiếc áo trắng của bố đã lấm lem và ướt sũng vì bụi đường và mồ hôi. Mẹ chở thằng út cũng mệt nhoài. Đến nơi là trời đã sáng, Cha xứ già thì lanh lảnh, khó chịu:

– “Giờ mới tới thì hết lễ rồi, nhanh lên chứ!”

Lễ xong, cả nhà lại khăn gói lên đường trở về mái chòi cũ… Ôi! Cái cảnh di dân làm tôi ngán ngẩm!

……….

Tiếng chị gọi kéo tôi về với căn phòng trọ:

– “Thầy uống nước đi, chờ xíu, anh nhà con đang hâm lại cá kho, lát nữa là xong à!”

Tôi chợt hỏi chị:

– “Chị đã ghi tên ở giáo xứ chưa? Có giấy chuyển xứ không?”

Chị cúi đầu:

– “Dạ chưa thầy. Con cũng không biết xin ở đâu…”

Tôi im lặng. Chị cùng chồng con từ miền Bắc vào đây, bỏ lại quê hương, cha mẹ và bà con thân thích, việc đầu tiên là tìm nhà thờ, nhưng điều đầu tiên tôi hỏi chị lại là giấy tờ! Mà tôi quên mất, ngày xưa, bố mẹ tôi cũng từng là những người đứng ngoài như thế!

………

Chiều hôm ấy trở về, trên con đường mấy chục cây số quen thuộc. Mọi khi tôi vẫn ngỡ mình là người được sai đến với đoàn chiên. Nhưng hôm đó tôi chạy xe chậm hơn nhiều, vì nhận ra điều ngược lại. Người từ Bắc vào đây đã đi hơn một nghìn cây số, và khi tôi còn đang loay hoay nghĩ làm sao cho Tin Mừng lan rộng, thì chị đã tự đến tìm Chúa trước tôi. Tôi cũng nhận ra mình đã quên: quên rằng mình từng là đứa trẻ di dân đứng ngoài sân nhà thờ. Giọng lanh lảnh của cha xứ già năm nào, sau bao năm, có lúc lại vang lên ngay trong lòng tôi mỗi khi liếc đồng hồ.

Tôi chợt nhớ những sáng Chúa nhật vội vàng của mình, chạy đến nhà thờ không kịp nuốt miếng bánh. Hôm nay, chị ngồi lại mời tôi chén cơm nguội với cá kho, món mà cả nhà chị coi là thịnh soạn nhất để đãi khách. Tôi đã ăn thật chậm. Hóa ra có những miếng cơm chẳng phải để no bụng, nhưng để một người xa lạ biết rằng mình được đón nhận.

Câu hỏi của tôi từ đầu thật ra không sai. Hơn hai ngàn năm nay, Giáo Hội chẳng phải vẫn đặt việc loan báo Tin Mừng lên hàng đầu sao? Nhưng có lẽ tôi đã đặt nó sai chỗ. Tin Mừng đâu chỉ lan đi từ người mục tử. Tin Mừng còn phải đi theo những chiếc xe chở công nhân từ quê lên phố, theo những chuỗi hạt treo trên đinh trong phòng trọ, theo những người đứng ngoài sân nhà thờ với chiếc nón cầm trên tay.

Tựa của bài này là một lời than, mà tôi đã từng than thật! Đó là lời của cậu bé di dân năm xưa ngán cảnh khăn gói đi về căn chòi cũ, cũng là lời của chính tôi hôm nay mỗi khi khó chịu vì người đi lễ vào muộn. Nhưng trưa hôm ấy, bưng chén cơm nguội trên tay, tôi mới chợt hiểu: điều tôi chán ghét chưa bao giờ là con người. Đó là vòng xoáy mưu sinh của “miếng cơm – manh áo – hạt gạo – đồng tiền” bắt họ phải chạy, chạy nữa, chạy mãi, chạy đến khi không còn biết mình thuộc giáo xứ nào! Thế nhưng, chính họ lại là những người không bỏ Chúa giữa vòng xoáy cuộc đời. Tôi từng nghĩ chuyện đó là nỗi lo của người di dân, còn đức tin lại là chuyện khác. Thế nhưng, hóa ra hai chuyện đó lại gắn với nhau chặt hơn tôi tưởng. Nhưng tôi không muốn nói rằng nghèo đói thì tốt, vất vả là chuyện hay. Nếu “đói chút mà có Chúa vẫn thấy yên lòng” là điều đẹp, thì “có Chúa mà vẫn đói” là điều Giáo Hội không mong muốn. Đức tin của chị là một món quà. Thế nhưng; tiền phòng trọ, giờ tăng ca, chuyện con cái đi học là những việc cụ thể mà cộng đoàn phải biết và cùng sẻ chia, chứ không thể để chị gánh một mình rồi gọi đó là hy sinh!

Nghĩ tới đây, tôi lại nhớ lời Đức Giêsu nói trong Tin mừng Matthew: “Ta là khách lạ, và các ngươi đã tiếp rước” (Mt 25,35). Chúa không bảo:“Ta là khách lạ, các ngươi đã đưa vào danh sách cứu trợ chờ ngày giải ngân”. Nhưng Ngài bảo chúng ta hãy mở cửa, đón vào và mời họ dùng bữa với những gì ta có. Người đến muộn đứng ngoài sân có thể là chính Đức Kitô, tay cầm chiếc nón rách, mặc áo công nhân và hôm nay Ngài đến trễ mà chúng ta không biết. Nên câu hỏi hôm nay tôi mang về không còn là “làm sao để Tin Mừng lan rộng” nữa. Nó trở thành một câu khó nghe hơn: “Giáo xứ của chúng ta, sân nhà thờ của chúng ta, có phải là nơi cho những người nghèo đến sau không?”

Chúa nhật tới, tôi vẫn sẽ chạy một quãng đường dài, vẫn chưa kịp nuốt miếng bánh. Nhưng tôi sẽ đến sớm hơn một chút, mở cửa rộng hơn một chút và đưa ánh mắt – nụ cười để tìm người đứng ngoài sân trước khi liếc đồng hồ.