Trong mùa Chay, Giáo hội một lần nữa chuẩn bị tưởng nhớ trọng thể những mầu nhiệm vĩ đại mà nhờ đó chúng ta được cứu độ.
Trong thời gian các Kitô hữu tìm hiểu sâu sắc hơn về mầu nhiệm khổ nạn, cái chết và phục sinh của Chúa Kitô, chúng ta không thể tìm thấy một hình mẫu nào tốt hơn để gần gũi với Chúa Kitô hơn là Mẹ của Chúa Giêsu. Bản Ghi chú Giáo lý - Doctrinal Note gần đây từ tháng Mười năm ngoái mô tả cách thức đặc biệt mà Chúa Kitô muốn Mẹ Maria tham gia vào công cuộc cứu độ của Ngài, đồng thời, tìm cách giúp các tín hữu tránh một số hiểu lầm về vấn đề này.
Như đã biết, văn kiện của Vatican không khuyến khích việc áp dụng danh hiệu “Co-Redemptrix – Đấng Đồng Công Cứu Chuộc” cho Mẹ Maria. Theo đó, văn kiện này tuân theo bước chân của Công đồng Vatican II, mong muốn mô tả vai trò đặc biệt của Mẹ Maria trong Giáo hội bằng cách bảo vệ vị trí tối cao của Chúa Kitô trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa.
Những cuộc tranh luận thần học về các danh hiệu không nên làm chúng ta xao nhãng khỏi giáo huấn phong phú về vai trò của Đức Mẹ trong công cuộc cứu độ, đã hiện diện xuyên suốt trong Truyền thống của Giáo hội và được công nhận trong văn kiện gần đây. Có thể nói rằng trong những thập kỷ gần đây, Giáo hội đã chọn con đường tìm cách diễn đạt sâu sắc vai trò mà Chúa Kitô muốn Mẹ của Ngài đón nhận trong công cuộc cứu chuộc, đồng thời tránh những hiểu lầm có thể nảy sinh từ các danh hiệu mới. Manfred Hauke, nhà Thánh mẫu học, nhận xét rằng Công đồng Vatican II, trong Hiến chế Lumen Gentium, “dạy giáo lý về sự đồng cứu chuộc nhưng không dùng từ ngữ đó, vì những lý do đại kết”.
Với chương cuối cùng của Hiến chế này, Công đồng thực sự đưa ra một mô tả chi tiết về vai trò đặc biệt của Mẹ Maria trong kế hoạch cứu chuộc nhân loại của Thiên Chúa. Vai trò này, đã được tiên báo trong Cựu uớc và được chuẩn bị bởi quyết định của Thiên Chúa giữ cho Mẹ không bị tội lỗi ngay từ giây phút tượng thai, bắt đầu hình thành vào thời điểm Truyền tin, trong đó, như Lumen Gentium đã nêu, Mẹ Maria “đón nhận ý muốn cứu độ của Thiên Chúa với trọn cả tấm lòng và không bị tội lỗi nào ngăn trở, ngài đã muốn nên như người nữ tỳ của Chúa để hoàn toàn hiến mình cho ngôi vị và công trình của Con ngài, đồng thời nhờ ân sủng của Thiên Chúa toàn năng, ngài phục vụ mầu nhiệm cứu chuộc tuỳ thuộc Con và cùng với Con. (số 56)[1]
Văn bản này nhắc lại giáo huấn của các Giáo phụ, những người coi Mẹ Maria không chỉ đơn thuần là một công cụ thụ động được Thiên Chúa sử dụng, mà còn là người “tự do cộng tác vào việc cứu rỗi nhân loại, nhờ lòng tin và sự vâng phục của ngài” (sđd). Như Thánh Irênê thành Lyon đã nói trong một câu nói nổi tiếng được Công đồng trích dẫn, qua lời “xin vâng” của mình, Mẹ Maria đã trở thành “nguyên nhân cứu rỗi cho mình và cho toàn thể nhân loại” (sđd).
Khoảnh khắc Truyền tin quen thuộc đến nỗi các Kitô hữu có lẽ dễ dàng quên đi mầu nhiệm sâu xa chứa đựng trong đó. Thiên Chúa quả thật đã thấy trước kế hoạch cứu độ của Ngài từ muôn thuở và không phụ thuộc vào con người. Đồng thời, một cách rất thực tế, Ngài muốn kế hoạch cứu độ nhân loại của Ngài phụ thuộc vào sự tự nguyện đáp lại của Mẹ Maria. Chỉ nhờ lời “xin vâng” của Mẹ đối với Thiên Chúa mà Chúa Kitô mới mang lấy bản tính con người, và chính nhờ bản tính con người của Chúa Kitô mà Thiên Chúa phục hồi nhân loại khỏi những vết thương của tội lỗi.
Lumen Gentium tiếp tục mô tả cách “sự liên kết giữa Mẹ và Con trong công cuộc cứu rỗi” (Lumen Gentium, số 57) tiếp diễn xuyên suốt cuộc đời Chúa Kitô: trong cuộc Thăm viếng, trong đó niềm vui về sự hiện diện của Thiên Chúa đến với Thánh Gioan Tẩy giả: “Bởi đâu tôi được Thân Mẫu Chúa tôi đến với tôi thế này? Vì này đây, tai tôi vừa nghe tiếng em chào, thì đứa con trong bụng đã nhảy lên vui sướng” (Lc 1, 43-44); trong sự giáng sinh của Chúa từ một trinh nữ, trong đó Mẹ Maria có mối liên hệ mật thiết với việc Chúa Kitô mang lấy bản tính con người để cứu rỗi nhân loại; và trong nhiều khoảnh khắc khác được thuật lại trong Tin mừng.
Các nhà thần học cho rằng việc dâng Con trong Đền thờ có ý nghĩa đặc biệt trong việc thể hiện chiều sâu sự tham gia của Mẹ Maria vào công cuộc cứu chuộc. Khi dâng Con mình, Mẹ Maria đang dâng hiến Con Thiên Chúa, và do đó, Mẹ tham gia vào việc dâng lên Thiên Chúa một hy sinh hoàn hảo. Giống như Tổ phụ Abraham, Mẹ Maria dâng Con Một của mình cho Thiên Chúa để vâng phục giới răn của Ngài.
Vào thời điểm này, Simêon thể hiện cách thức độc đáo mà Mẹ Maria sẽ chia sẻ những đau khổ trong tương lai của Con mình. Khi ông ca ngợi Hài nhi như một ánh sáng của sự mặc khải, ông báo cho Mẹ biết rằng “một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà” (Lc 2, 35).
Việc tìm thấy Hài nhi Giêsu trong Đền thờ: “Khi thấy con, hai ông bà sửng sốt, và mẹ Người nói với Người: Con ơi, sao con lại xử với cha mẹ như vậy? Con thấy không, cha con và mẹ đây đã phải cực lòng tìm con!” (Lc 2, 41-50) giúp chúng ta hiểu rõ hơn về bản chất sự tham gia của Mẹ Maria vào hy tế của Chúa Kitô.
Trong cảnh Tin mừng này, Chúa Kitô làm chứng cho mối tương quan mật thiết độc nhất vô nhị của Ngài với Chúa Cha: “Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao?” (Lc 2, 49). Mẹ Maria, cùng với Thánh Giuse, không ngay lập tức hiểu được ý nghĩa lời nói của Con mình: “Nhưng ông bà không hiểu lời Người vừa nói” (Lc 2, 50). Vai trò của Mẹ Maria trong công cuộc cứu chuộc không ở cùng cấp độ với sự vâng phục độc nhất vô nhị của Con Một Thiên Chúa đối với Chúa Cha. Thay vào đó, vai trò của Mẹ Maria xuất phát từ mối tương quan đặc biệt của Mẹ với Chúa Kitô, Đấng mà Mẹ đã “đã phải cực lòng tìm kiếm” (Lc 2, 48) suốt ba ngày trước khi tìm thấy Ngài trong Đền thờ.
Những đoạn Kinh thánh đã đề cập ở trên, dù áp dụng cho thời thơ ấu của Chúa chúng ta, vẫn cho thấy sự kết hợp mật thiết với Chúa Kitô mà Mẹ Maria duy trì suốt cuộc đời. Mẹ giữ mầu nhiệm Chúa Kitô trong lòng: “hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng” (Lc 2, 51). Trong suốt thời gian Con mình thi hành sứ vụ công khai, Mẹ ở phía sau, khi Chúa Kitô kêu gọi những người nam nữ khác, các tông đồ và các thánh nữ, cộng tác trong sứ mệnh cứu độ của Ngài. Tuy nhiên, chính bằng cách phục tùng này mà Mẹ Maria thực hiện vai trò độc đáo của mình trong sứ mệnh cứu chuộc của Chúa Giêsu. Sự can thiệp kín đáo của Mẹ tại Cana có vai trò quyết định trong việc mang đến dấu hiệu đầu tiên cho thấy Chúa Kitô là Đấng Mêsia: “Ngày thứ ba, có tiệc cưới tại Cana miền Galilê. Trong tiệc cưới có thân mẫu Đức Giêsu. Đức Giêsu và các môn đệ cũng được mời tham dự. Khi thấy thiếu rượu, thân mẫu Đức Giêsu nói với Người: Họ hết rượu rồi. Đức Giêsu đáp: Thưa bà, chuyện đó can gì đến bà và tôi? Giờ của tôi chưa đến. Thân mẫu Người nói với gia nhân: Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo… Đức Giêsu bảo họ: Các anh đổ đầy nước vào chum đi! Và họ đổ đầy tới miệng. Rồi Người nói với họ: Bây giờ các anh múc và đem cho ông quản tiệc. Họ liền đem cho ông. Khi người quản tiệc nếm thử nước đã hoá thành rượu, mà không biết rượu từ đâu ra, còn gia nhân đã múc nước thì biết, ông mới gọi tân lang lại và nói: Ai ai cũng thết rượu ngon trước, và khi khách đã ngà ngà mới đãi rượu xoàng hơn. Còn anh, anh lại giữ rượu ngon mãi cho đến bây giờ” (Ga 2, 1-11).
Mối liên kết mật thiết giữa Mẹ Maria và công cuộc cứu độ của Con mình đạt đến đỉnh điểm trong Thập tự giá. Thông điệp Lumen Gentium làm rõ rằng Mẹ Thiên Chúa không chỉ đơn thuần là người đứng ngoài cuộc một cách thụ động trong những khoảnh khắc này. Mẹ “cũng đã tiến bước trong cuộc lữ hành đức tin, trung thành hiệp nhất với Con cho đến bên thập giá, là nơi mà theo ý Thiên Chúa, Mẹ đã đứng đó (Ga 19,25). Mẹ Maria đã đau đớn chịu khổ cực với Con một của mình và dự phần vào hy lễ của Con, với tấm lòng của một người mẹ hết tình ưng thuận hiến tế lễ vật do lòng mình sinh ra” (Lumen Gentium, số 58).
Công đồng này thể hiện một quan niệm đã xuất hiện trong thời Trung cổ, một thời kỳ mà các nhà thần học đã nhận thức sâu sắc hơn tầm quan trọng trung tâm của hy tế của Chúa Kitô trên thập giá đối với sự cứu rỗi của nhân loại. Tu viện trưởng Arnold thành Chartres (1144-1156), môn đệ và bạn của Thánh Bênađô xứ Clairvaux, mô tả sự hiện diện của “hai bàn thờ” vào thời điểm này: “một trong trái tim của Mẹ Maria, một trong thân thể của Chúa Kitô”[2].
Tu viện trưởng Arnold lưu ý rằng trong khi “Chúa Kitô hy sinh thân xác mình, Mẹ Maria hiến dâng linh hồn mình” (sđd). Mẹ hiến dâng chính mình về mặt tinh thần trong sự hiệp thông sâu xa với Chúa Kitô và cầu xin ơn cứu độ cho thế giới.
Nhận thức sâu sắc về chân lý này, bắt nguồn từ Kinh thánh, đã khiến nhiều vị Giáo hoàng thế kỷ 20 nhấn mạnh vai trò của Mẹ Maria trong công cuộc cứu chuộc và đôi khi sử dụng thuật ngữ “Đồng Công Cứu Chuộc”[3], một danh hiệu do một số nhà thần học đề xuất vào đầu thế kỷ trước. Công đồng chung gần đây nhất, dù quyết định từ bỏ danh hiệu này để tránh những nhầm lẫn có thể xảy ra, nhưng vẫn để lại cho chúng ta một tầm nhìn giáo lý sâu sắc về sự gắn bó mật thiết mà Thiên Chúa muốn Mẹ Maria có trrong công cuộc cứu độ của Chúa Kitô. Giáo hội không thể không tiếp tục nhận ra và suy ngẫm chân lý này và rút ra từ đó những bài học quý giá để sống Tin mừng ngày nay.
Như Thánh Gioan Phaolô II đã khẳng định dựa trên giáo huấn của Thánh Phaolô, “Mỗi người đều có phần của mình trong công cuộc cứu chuộc. Mỗi người cũng được mời gọi để chia sẻ sự đau khổ mà qua đó công cuộc cứu chuộc đã được hoàn thành” (Tông thư Salvifici Doloris, chương V, số 19).
Trong việc thực hiện nhiệm vụ quan trọng này, Giáo hội hướng đến Mẹ của Đấng Cứu thế như một hình mẫu và là Đấng chuyển cầu, để các tín hữu của Chúa Kitô có thể cảm nhận trọn vẹn hơn và lan tỏa những hoa trái của ơn cứu độ mà Con của Mẹ đã giành được.
Phêrô Phạm Văn Trung
Chuyển ngữ từ: ncregister.com
Nguồn: TRONG MÙA CHAY, MẸ MARIA CHỈ CHO CHÚNG TA CÁCH CHIA SẺ CUỘC KHỔ NẠN CỦA CHÚA KITÔ.
[1] https://uybangiaoduchdgm.net/wp-content/uploads/2020/04/Hien-Che-Tin-ly-ve-Giao-Hoi_LG.pdf
[2] https://catholicismhastheanswer.com/feast-of-the-seven-sorrows-of-our-lady/
[3] https://tgpsaigon.net/bai-viet/duc-maria-la-me-cac-tin-huukhong-phai-la-dang-dong-cong-cuu-chuoc-82566
